Saturday, July 18, 2009

Trở lại trận Ban Mê Thuột



Nhân kỷ niệm 30 năm ngày chiếm Ban Mê Thuột, trong một cuộc phỏng vấn đăng trên nhật báo Nhân Dân của Đảng CSVN số ra ngày 10.3.1975, Thượng Tướng Hoàng Minh Thảo, Tư Lệnh Mặt Trận Tây Nguyên, đã nói rằng sở dĩ Buôn Ma Thuột được lựa chọn vì đây là điểm mà lực lượng miền Nam Việt Nam ít chú ý hơn, có nhiều sơ hở và thuận lợi cho các đơn vị lớn hoạt động. Hơn nữa, miền Nam Việt Nam và cả các cố vấn Mỹ vẫn tin rằng miền Bắc chưa đủ sức đưa quân vào Buôn Ma Thuột vào thời điểm đó.

Khi được đài BBC phỏng vấn, Tướng Thảo trả lời còn tệ hơn, ông chỉ lặp lại những luận điệu bố lếu bố láo cũ đã lỗi thời khiến người nghe phải bực mình, nên chẳng cho biết thêm được gì. Điều này cũng dễ hiểu thôi: Tướng Hoàng Minh Thảo là cấp thừa hành, chỉ đâu đánh đó, có trình độ văn hóa thấp và chỉ có tầm nhìn chiến thuật, nên không thể biết được kế hoạch của Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương ở Hà Nội như thế nào.

Cách đây 15 năm, khi mới đến Hoa Kỳ, chúng tôi đã viết một bài đầu tiên về trận đánh Ban Mê Thuột đăng trên báo Thời Luận ở Los Angeles, căn cứ vào các cuộc phỏng vấn các nhân chứng ở trong tù. Bài đó đã làm đảo ngược lại cách nhìn về những ngày ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Trước đó, một số người đi trước, nhất là Phạm Huấn, cứ nghĩ rằng các nhân chứng sẽ không bao giờ tới được đất Mỹ, nên đã viết phịa sử một cách thoải mái!

Nay đã 30 năm, thời gian đủ để cho chúng ta sưu tầm tài liệu, gạn lọc và suy nghĩ để trình bày lại vấn đề một cách chính xác hơn. Tuy nhiên, muốn trình bày trận Ban Mê Thuột một cách đầy đủ, phải viết ít nhất 10 số báo. Hôm nay, nhân số kỷ niệm 30 năm ngày mất miền Nam Việt Nam, chúng tôi chỉ xin trình bày những nét chính để giúp độc giả theo dõi một cách dễ dàng hơn.

KẾ HỌACH CỦA CỘNG QUÂN

Như chúng tôi đã nói trong số báo ra ngày 11.3.2005, muốn chiếm miền Nam một cách nhanh chóng, kế hoạch của Hà Nội là phải đánh thẳng vào Sài Gòn, đầu não của miền Nam, bỏ qua các tỉnh miền Trung. Muốn thực hiện điều dó, Tướng Văn Tiến Dũng cho biết Hà Nội đã quyết định cho làm lại con đường Đông Trường Sơn, tức quốc lộ 14, bắt đầu từ Khe Hó ở Quảng Trị, xuống tận Tà Thiết ở Bình Long, tức vùng Chiến Khu Đ. Công trình này đã được khởi sự từ năm 1973, xử dụng khoảng 30.000 bộ đội và thanh niên xung phong. Khi làm con đường này, có hai cái chốt phải nhổ mới có thể khai thông được, đó là Thường Đức ở phía tây Đà Nẵng và Đức Lập, ở phía tây Ban Mê Thuột.

Trong cuốn “Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm” Tướng Trần Văn Trà cho biết vào tháng 10 năm 1974, ông và Phạm Hùng ra Bắc họp, Bộ Chính Trị đã ra lệnh tại Nam Tây Nguyên phải mở hành lang chiến lược đoạn Đức Lập cho thông suốt. Năm 1976 sẽ bắt đầu đánh lớn.

Tại sao phải chiếm Đức Lập?

Đức Lập thuộc tỉnh Quảng Đức, một tỉnh nằm ở phía nam Ban Mê Thuột và sát vùng ngả ba biên giới Việt - Miên- Lào. Năm 1910, một người Pháp tên là Henri Maitre đi thám hiểm vùng Tây nguyên đã khám phá ra vùng ba biên giới này. Nhưng khi người Pháp đến lập các căn cứ tại đây thì bị người Thượng chống trả rất quyết liệt. Năm 1932, Đại Úy Mallard từ Bandon thuộc tỉnh Darlac, đã theo sông Dak Dam đi lên và khám phá ra vùng DAKMIL nằm sát vùng Tam Biên là nơi có đất rất tốt, nên xin bình định và lập một đồn tại đây để kiểm soát và khai thác. Sau đó, Pháp đã cho làm một liên tỉnh lộ nối liền Bandon với Darmil dài 55 cây số và đặt tên là Liên tỉnh lộ 6. Vùng Dakmil là quận Đức Lập sau này.

Quốc lộ 14, sau khi chạy qua Ban Mê Thuột, đã đi vào Đức Lập rồi chia thành hai nhánh, một nhánh đi thẳng qua Phước Long và Bình Long, nối liền với đầu quốc lộ 13, một nhánh đi về Gia Nghĩa rồi quẹo qua Kiến Đức, vào Phước Long và gọi là quốc lộ 14B.

Năm 1959, khi các hoạt động của Cộng quân gia tăng ở vùng Cao Nguyên và Chiến Khu Đ, chính phủ Ngô Đình Diệm đã quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức để kiểm soát vùng Tam Biên và chặn đường đi xuống Chiến Khu Đ của Cộng quân. Tỉnh này gồm 3 quận là Kiến Đức, Khiêm Đức và Đức Lập. Tỉnh lỵ đặt tại Gia Nghĩa.

Để khai thông Thường Đức, trong hai tháng 7 và 8 năm 1974, Cộng quân đã huy động gần 3 sư đoàn thiện chiến để thanh toán cái chốt này. Sau đó, Cộng quân làm khúc đường 14 từ Quảng Nam đến Phước Long ở cả hai chiều cùng một lúc, một chiều từ Phước Long đi lên Quảng Đức và một chiều từ Quảng Nam đi vào. Tại khúc Kontum, Pleiku và Ban Mê Thuột, Quân Lực VNCH đang trần đóng trên quốc lộ 14, nên Cộng quân phải làm con đường thứ hai đi vòng sau Kontum, Pleiku và Ban Mê Thuột để vào Quảng Đức và đặt tên là Quốc lộ 14A. Khi tới Đức Lập, con đường bị kẹt ở đây nên Cộng quân phải thanh toán Đức Lập bằng mọi giá. Tuy nhiên, chiếm xong Đức Lập mà muốn giữ vững cái chốt này, phải chiếm luôn Ban Mê Thuột vì từ Ban Mê Thuộc, quân lực VNCH có thể đánh chiếm lại.

Ban Mê Thuột là tỉnh lỵ của tỉnh Darlac, có độ cao khoảng 536 thước và cách Sài Gòn 353 cây số. Vùng đất này ngày xưa thuộc sắc tộc Rhadé Kpa, do tù trưởng Ama Y Thuột cai quản (có sách viết là Maya Thuột). Theo truyền tụng, trước đây Ban Mê Thuột được gọi là Buôn Ma Thuột, vì theo thổ ngữ của sắc tộc Rdadé, Buôn có nghĩa là làng hay ấp, Ma là ông, còn Thuột là tên riêng. Buôn Ma Thuột là làng của ông Thuột. Năm 1923 tỉnh Darlac được thành lập và đặt dưới quyền cai trị của Công Sứ Sabatier. Đây là một vùng đất phì nhiêu và là cửa ngỏ quan trọng của đường giao thông từ Tây Nguyên xuống Nam Phần.

KHÔNG NHẬN RA KẾ HOẠCH CỦA ĐỊCH

Như chúng tôi đã trình bày trong số ra ngày 1.4.1975, trong cuộc họp vào đầu tháng 10 năm 1974 tại Dinh Độc Lập, Tướng Phạm Văn Phú đã nhận định: “Đối phương có thể đẩy nỗ lực chính vào việc đánh mạnh Kontum - Pleiku, cắt đường 14, đường 19 (nối Quy Nhơn với Pleiku).”

Ông không tiên đoán được Cộng quân sẽ đánh Đức Lập và Ban Mê Thuột để khai thông đường Đông Trường Sơn. Cộng quân không hề định đánh Kontum hay Pleiku như ông đoán.

Tướng Nguyễn Văn Thiệu cũng không nắm vững chiến lược và chiến thuật của địch nên đã nhận định rất vu vơ: “Có thể Cộng Sản sẽ mở tiến công trong Đông - Xuân, quy mô lớn hơn 1972, kéo dài cả năm. Mục tiêu chung nhằm đánh phá bình định và diệt nguồn sinh lực của ta. Có thể Cộng Sản đánh chiếm Quảng Trị trên cơ sở cô lập Huế - Đà Nẵng. Lấy Kontum để áp lực Bắc Bình Định, lấy Tây Ninh làm thủ đô và ung thối đồng bằng sông Cửu Long.”

Tướng Trần Văn Minh, Tư Lệnh Không Quân, đã báo cáo rằng theo không ảnh, Cộng quân đã khai thông được đường Đông Trường Sơn và hệ thống ống dẫn dầu đã phát triển tới tây bắc Bến Giằng (tức Thường Đức, Quảng Nam). Nhưng chẳng ai thèm để ý.

TIN TỨC TÌNH BÁO DỒN DẬP

Đại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 của Quân Đoàn 2, kể lại rằng nhờ hệ thống truyền tin điện tử, Quân Đoàn 2 VNCH đã mở được hầu hết các khóa mật mã của Cộng Quân đánh đi. Nhờ vậy, từ tháng 12 năm 1974 Quân Đoàn 2 đã biết được Cộng quân đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột.

Đại Tá Phùng Văn Quang, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 45 thuộc Sư Đoàn 23 cho biết một tiểu đoàn của Trung Đoàn 45 đang hành quân trên quốc lộ 14 gần quận Thuần Mẫn thì một cán binh Việt Cộng ra xin đầu thú. Anh ta khai tên là Sinh (có người nói là Sính), một sĩ quan truyền tin, có nhiệm vụ bắt đường dây điện thoại ngang qua quốc lộ 14 nối liền Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 320 ở phía tây quốc lộ này với một đơn vị đang đóng ở quận Thuần Mẫn. Khi điều tra thì khám phá ra anh ta chỉ là một Thượng Sĩ chớ không phải sĩ quan. Vì giữ nhiệm vụ truyền tin, anh ta biết khá nhiều về kế hoạch hành quân của Sư Đoàn 320 và các đơn vị phối hợp. Anh cho biết Sư Đoàn 320 đang đóng ở phía tây quốc lộ 14 gần quận Buôn Hô và đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột. Khi tin này được báo về Quân Đoàn 2, Tướng Phú ra lệnh Trung Đoàn 45 cho một tiểu đoàn hành quân lục soát hai bên quốc lộ 14, từ Ban Mê Thuột đến Pleiku để phát hiện địch. Đại Tá Quang nói ông đã cho lục soát nhưng không thấy gì. Sau này ông tiết lộ rằng tiểu đoàn đó chỉ lục soát mỗi bên quốc lộ 14 khoảng 1 cây số, trong khi Sư Đoàn 320 đóng xa quốc lộ đến 5 cây số nên không thể phát hiện được. Khi không khám phá ra địch, tên Sinh đồng ý hướng dẫn trực thăng đến trên vùng Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 320 đang đóng. Đại Tá Quang nói rằng theo sự chỉ dẫn của tên Sinh, ông đã nhìn thấy phía dưới các cơ sở chứng minh có địch đang đóng quân tại đó và đã báo cáo cho Tướng Phú biết.

Mặc dầu có tin Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 320 đã chuyển từ Kontum về phía bắc Ban Mê Thuột, nhưng cơ quan truyền tin của Quân Đoàn 2 cho biết họ vẫn nhận được các tín hiệu truyền tin của Sư Đoàn này phát đi từ một căn cứ ở Kontum. Căn cứ vào báo cáo này, Tướng Phú cho rằng Sư Đoàn 320 vẫn còn tại Kontum và những lời khai của tên Sinh chỉ là một kế nghi binh của địch để đánh Pleiku.

Trong thực tế, Sư Đoàn 320 đã chuyển về phía bắc Ban Mê Thuột nhưng tiếp tục cho phát các tín hiệu truyền tin từ Kontum để đánh lạc hướng.

Đầu tháng 2/1975, Phòng 2 Quân Đoàn khám phá ra một thông báo của Cộng quân về cuộc họp vào ngày 1.2.1975 của Tư Lệnh các Sư Đoàn 320, F.10 và 968 tại vùng phía tây Đức Cơ để khai triển chiến dịch 275. Thông báo này do một người tên Tuấn ký tên. Tuấn là một trong những bí danh của Văn Tiến Dũng.

Một nữ du kích hồi chánh ở Ban Mê Thuột cho biết Trung Đoàn 25 của Cộng quân đã được lệnh ăn Tết trước để chuyển quân về vùng Khánh Dương ở phía đông Ban Mê Thuột và một số đơn vị thuộc Sư Đoàn F.10 đã có mặt xung quanh quận Đức Lập, phía tây nam Ban Mê Thuột. Các thợ rừng báo cáo họ thấy nhiều đơn vị Cộng quân lẩn quẩn trong vùng phía bắc và phía tây Ban Mê Thuột... Những tin tức này cho thấy Cộng quân đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột.

Trung Tá Ngô Văn Xuân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 44, cho biết vào Tết Ất Mão (1975), Trung Đoàn 44 đang đóng ở căn cứ 801, cách tỉnh lỵ Pleiku khoảng 20 cây số về hướng tây bắc, đã được Quân Đoàn 2 chỉ định tiếp đón Tổng Thống đến ăn Tết. Đúng 12 giờ trưa ngày mồng một Tết (11.2.1975), Tổng Thống từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 đến Trung Tâm Hành Quân của Trung Đoàn 44 bằng trực thăng cùng với các Tướng Trần Văn Trung, Lê Nguyên Khang và Phạm Văn Phú. Tại đây, Trung Tá Điều Ngọc Chuy, Trưởng Phòng 2 Sư Đoàn 23, đã trình bày về tình hình chung của các khu vực trách nhiệm đang do Sư Đoàn 23 trấn giữ, đặc biệt nhấn mạnh đến chi tiết về cung từ của một cán binh cộng sản thuộc Sư Đoàn 320 ra đầu thú cho biết rõ các chi tiết địch đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột. Tổng Thống có vẽ đăm chiêu rồi quay lại hỏi Tướng Phú. Tướng Phú nhận định rằng có thể Việt Cộng đưa ra một kế trá hàng nhằm đánh lạc hướng chú ý của ta. Theo ông, Pleiku là điểm, Ban Mê Thuột chỉ là diện, bởi vì Pleiku có cơ sở đầu não là BTL Quân Đoàn 2. Nếu địch tiêu diệt được cứ điểm này, chúng sẽ dễ dàng làm chủ được toàn bộ Cao Nguyên và tỏa xuống khu vực duyên hải. Tổng Thống Thiệu suy nghĩ trong giây lát, rồi ra lệnh cho Tướng Phú đưa toàn bộ Sư Đoàn 23 về lại Ban Mê Thuột. Tổng Thống nói địa thế Pleiku là khu vực trống trải, bao gồm nhiều đồi thấp và trọc, có tầm quan sát rộng, địch không bao giờ dám đương đầu trên những khoảng trống như vậy. Tổng Thống hứa sẽ cho thêm một Liên Đoàn Biệt Động Quân để làm lực lượng trừ bị. Tướng Phú đáp: “Xin tuân lệnh!”

Sau khi nghe thuyết trình, Tổng Thống Thiệu không đi Kontum như đã dự định mà đến Ban Mê Thuột và Quảng Đức để thăm và ủy lạo các binh sĩ.

Đại Tá Trịnh Tiếu cho biết ngày 15.2.1975, Tướng Phú đã mở một cuộc họp tại Quân Đoàn 2 để kiểm điểm tình hình trong Quân Khu 2, có Lãnh Sự Mỹ ở Nha Trang lên tham dự. Đại Tá Tiếu đã trình bày thêm các tài liệu cho biết địch sẽ đánh Ban Mê Thuột, nhưng Tướng Phú cứ chần chờ, không chịu ra lệnh chuyển quân.

Trung Tá Ngô Văn Xuân cho biết đến ngày 17.2.1975 Tướng Phú mới triệu tập phiên họp để đặt kế hoạch chuyển quân về Ban Mê Thuột theo lệnh Tổng Thống. Theo kế hoạch này, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 sẽ di chuyển bằng đường bộ, khi qua khu đèo Tử Sĩ, Trung Đoàn 45 sẽ đi theo tháp tùng. Trung Đoàn 44 đợi một Liên Đoàn Biệt Động Quân đến thay thế trong vòng 3 ngày và sẽ đi sau.

Tám giờ sáng ngày 18.2.1975, đoàn quân tập trung tại căn cứ Hàm Rồng để khởi hành, nhưng đến 11 giờ Tướng Phú ra lệnh hủy bỏ việc chuyển quân. Ông nói địch sẽ đánh Pleiku và việc địch chuyển quân quanh Ban Mê Thuột là để nghi binh mà thôi. Lệnh của Tướng Phú đã làm cả Quân Đoàn 2 ngạc nhiên.

PHỐI TRÍ LỰC LƯỢNG CỦA HAI BÊN

a) Phối trí của Quân Lực VNCH: Cao Nguyên Trung Phần gồm bốn tỉnh: Kontum, Pleiku, Darlac và Quảng Đức. Tướng Phạm Văn Phú đã phối trí quân để phòng thủ Cao Nguyên như sau:

1.- Mặt trận Kontum: Mặt Trận này do Đại Tá Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân Quân Khu 2 chỉ huy, gồm có:

- Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân với Tiểu Đoàn 96 đóng ở đèo Chu Pao và Tiểu Đoàn 72 đóng ở Kontum. Tiểu Đoàn 89 biệt phái cho Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân đóng tại nam Kontum.

- Liên Đoàn 22 Biệt Động Quân với Tiểu Đoàn 95 đóng tại Trương Nghĩa phía tây Kontum, Tiểu Đoàn 88 đóng tại Ngọc Bay ở phía tây bắc Kontum và Tiểu Đoàn 62 đóng tại Kontum.

- Liên Đoàn 23 Biệt Động Quân với ba Tiểu Đoàn 11, 22 và 23 đóng ở phía bắc Kontun, dọc theo quốc lộ 14.

Về sau, Bộ Tổng Tham Mưu gởi Liên Đoàn 6 Biệt Động Quân đến tắng cường cho Cao Nguyên với hai Tiểu Đoàn 35 và 36 đóng ở phía đông và đông bắc Kontum. Tiểu Đoàn 52 được tăng cường cho Liên Đoàn 25 Biệt Động Quân tại Thanh An, Pleiku.

Như vậy có 4 Liên Đoàn Biệt Động Quân trấn giữ Kontum. Tướng Phú rất sợ Cộng quân sẽ mở một cuộc tấn công vào Kontum như “mùa hè đỏ lửa” năm 1972.

2.- Mặt trận Pleiku: Mặt trận này do Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Sư Đoàn Trưởng Sư Đoàn 23 chỉ huy, gồm có:

- Trung Đoàn 44 đóng ở căn cứ 801 cách tỉnh lỵ Pleiku 20 cây số về phía tây.

- Trung Đoàn 45 đóng ở căn cứ Gầm Ga, phía bắc quận Thuần Mẫn, gần đèo Tử Sĩ, dọc theo quốc lộ 14, giữa Ban Mê Thuột và Pleiku.

- Liên Đoàn 25 Biệt Động Quân với ba Tiểu Đoàn 67, 76 và 90 đóng tại Thanh An, phía tây Pleiku.

Sau này, Bộ Tổng Tham Mưu gởi thêm Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân đến Pleiku với Tiểu Đoàn 42 đóng tại Ban Can phía đông Pleiku, trên quốc lộ 19; Tiểu Đoàn 43 đóng tại Hàm Rồng và Tiểu Đoàn 44 đóng tại Pleiku. Sau khi Ban Mê Thuột bị thất thủ, Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân được phái đến thay hai Trung Đoàn 44 và 45 của Sư Đoàn 23 để hai Trung Đoàn này đi chiếm lại Ban Mê Thuột.

Bộ Tư Lệnh Hành Quân của Sư Đoàn 23 đặt tại Hàm Rồng, cách tỉnh lỵ Pleiku 12 cây số về phía nam, cùng với Tiểu Đoàn 43 của Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân.

3.- Mặt trận Ban Mê Thuột và Quảng Đức: Mặt Trận này do Đại Tá Vũ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 23 chỉ huy, gồm có:

- Trung Đoàn 53 với hai Tiểu Đoàn 1 và 3 đóng tại căn cứ B.50 ở phi trường Phùng Dực và Tiểu Đoàn 2 đóng tại Dak Soong ở Quảng Đức.

- Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân với Tiểu Đoàn 63 đóng tại Gia Nghĩa, hai Tiểu Đoàn 81 và 82 đóng xung quanh Kiên Đức.

Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 đóng tại Ban Mê Thuột.

b) Phối trí của Cộng quân: Lực Lượng của Cộng quân ở Cao Nguyên gồm có Sư Đoàn 320 đóng ở Kontum, Sư Đoàn F.10 hoạt động ở Pleiku, Sư Đoàn 986 trú quân tại vùng Tam Biên Việt - Miên - Lào, Trung Đoàn biệt lập 25, một trung đoàn khá thiện chiến, luôn quấy phá ở hai tỉnh Darlac và Quảng Đức, và Trung Đoàn đặc công 95-B, một trung đoàn rất thông thạo về địa hình ở Cao Nguyên, thường đóng ở phía đông Pleiku. Trung Tướng Hoàng Minh Thảo là Tư Lệnh. Thiếu Tướng Vũ Lăng, Đại Tá Phạm Hàm và Đại Tá Nguyễn Lăng làm Tư Lệnh Phó. Đại Tá Nguyễn Hiệp làm Chính Ủy.

CHUẨN BỊ ĐÁNH BAN MÊ THUỘT

Ban Mê Thuột lúc đó có khoảng 250.000 dân gồm nhiều sắc tộc khác nhau. Nơi đây có nhiều đồn điền, đa số là rừng cao su và cà phê, không có các chướng ngại thiên nhiên để giúp phòng thủ như ở Kontum hay Pleiku nên rất dễ bị tấn công. Lực lượng phòng thủ lại rất yếu: Nghĩa Quân và Địa Phương Quân phần lớn là người Thượng, không thiện chiến, thiếu tinh thần kỷ luật và không được trang bị đầy đủ. Tất cả trông chờ vào Trung Đoàn 53, nhưng Trung Đoàn này phải bao bọc một vùng lãnh thổ quá lớn gồm 2 tỉnh nên khó bảo vệ nổi.

Để đánh Ban Mê Thuột, lúc đầu Cộng quân huy động 4 Sư Đoàn: Sư Đoàn 3 Sao Vàng ở Bình Định, Sư Đoàn F.10 ở Pleiku, Sư Đoàn 320 ở Kontum, Sư Đoàn 968 đang đóng ở vùng Tam Biên. Ngoài ra, Cộng quân còn xử dụng Trung Đoàn biệt lập 25 để chận đường tiếp viện và Trung Đoàn 95-B để làm mũi nhọn tấn công.

Trước hết, Cộng quân ra lệnh cho Sư Đoàn 968 đang đóng ở vùng Tam Biên kéo về phía tây Quận Thanh An ở phía tây Pleiku để thay cho Sư Đoàn F.10 tiến về phía tây Ban Mê Thuột. Đại Úy Trác Ngọc Anh, một sĩ quan không báo của Quân Đoàn 2, đã nói với chúng tôi rằng vào cuối tháng 1 năm 1975, khi máy bay L.19 chở anh đang bay thám thính trên con đường từ vùng Tam Biên về Thanh An thì anh phát hiện ra một đoàn quân xa độ một trăm chiếc đang chạy từ Tam Biên về Pleiku. Anh thông báo ngay về Phòng 2 của Quân Đoàn. Một lúc sau khi nghe báo cáo, cơ quan quân báo của Hoa Kỳ đã nói vào máy cho biết đó là các xe chuyển quân của Sư Đoàn 968 của Cộng quân. Quân Đoàn 2 đã xin Bộ Tổng Tham Mưu huy động các phi cơ A.37 của Sư Đoàn 2 và Sư Đoàn 6 Không Quân đến oanh kích. Cuộc oanh kích kéo dài từ 9 giờ sáng đến quá trưa, nhưng vẫn còn thấy một số xe đang chạy. Bộ Tổng Tham Mưu phải điều động thêm Sư Đoàn 1 Không Quân ở Đà Nẵng vào trợ chiến. Cuộc oanh kích kéo dài đến 4 giờ chiều thì chấm dứt. Một máy bay C.47 của Bộ Tổng Tham Mưu đã đến chụp hình và thấy khói bay ngụt trời, nhiều tiếng nổ từ dưới đất phát ra, vô số xe bị bắn cháy nằm rải rác trên đường. Sau chiến công này, Quân Đoàn 2 được khen thưởng. Trung Úy Trác Ngọc Anh (đang ở Boston) được vinh thăng Đại Úy.

Bị thiệt hại nặng trong vụ oanh kích đó, Sư Đoàn 968 không còn khả năng chiến đấu như lúc đầu nữa, Bộ Chỉ Huy Tây Nguyên của Cộng quân đã điện về Hà Nội cầu cứu. Hà Nội liền ra lệnh rút gấp Sư Đoàn 316 đang đóng ở vùng biên giới Lào-Việt ở phía tây Nghệ Tĩnh đưa vào Cao Nguyên Trung Phần thay thế cho Sư Đoàn 968. Sư Đoàn 316 là một Sư Đoàn cơ động nhẹ, chỉ có 2 Trung Đoàn, nên khi đi qua Thừa Thiên đã được tăng cường thêm một Trung Đoàn của Sư Đoàn 324 đang đóng tại đây. Sau đó, Hà Nội còn cho thêm Trung Đoàn 29B ở Đà Nẵng vào tăng cường.

Có đủ quân số rồi, Cộng quân phối trí như sau: Sư Đoàn 3 Sao Vàng từ Bình Định đem hai Trung Đoàn đóng ở phía tây đèo An Khê, cắt quốc lộ 19 nối liền Bình Định và Pleiku để chận đường tiếp viện của Sư Đoàn 22 bộ binh và nghi binh.

Sư Đoàn F.10 từ Pleiku tiến về phía tây Ban Mê Thuột, vây quận Đức Lập, cắt con đường 14 nối liền Ban Mê Thuột với Đức Lập.

Sư Đoàn 320 từ Kontum di chuyển về phía bắc Ban Mê Thuột, đóng cách quốc lộ 14 về phía tây 5 cây số để chận quốc lộ 14 từ Pleiku đến Ban Mê Thuộc. Một tiểu đoàn của Sư Đoàn này đã băng qua quốc lộ 14, khúc cầu 210 (còn gọi là cầu Ialeo) và tiến về phía đông, đóng chốt trên đường nối liền tỉnh Phú Bổn với quận Thuần Mẫn ở phía đông bắc Ban Mê Thuột.

Trung Đoàn 25 tiến về phía đông Ban Mê Thuột, chận quốc lộ 21 nối liền tỉnh Khánh Hòa với Ban Mê Thuột, khúc đèo Chư Cúc, giữa quận Khánh Dương của Khánh Hòa và quận Phước An của Ban Mê Thuột.

Tàn quân của Sư Đoàn 968 (khoảng hơn 1 Trung Đoàn) tiến về phía tây Pleiku, có nhiệm vụ gây rối để cầm chân 2 Trung Đoàn của Sư Đoàn 23 ở lại mặt trận Pleiku.

Trung Đoàn đặc công 95-B phong tỏa quốc lộ 19 nối liền Pleiku với Quy Nhơn, ở khúc sát chân đèo Mang Yang, phía đông Pleiku

Sư Đoàn cơ động nhẹ 316 mới từ Bắc vào sẽ làm mũi nhọn đánh vào thành phố Ban Mê Thuột, nhưng sợ sư đoàn này 316 thiếu kinh nghiệm, không nắm vững địa hình địa vật, sẽ không hoàn thành nhiệm vụ, nên Hà Nội chỉ thị cho một tiểu đoàn của Trung Đoàn 95-B hướng dẫn sư đoàn này.

Qua các khóa mật mã mở được, Quân Đoàn 2 cũng biết đích xác ngày giờ Tướng Văn Tiến Dũng sẽ vào Nam bằng đường Tây Trường Sơn rồi xuống đường Đông Trường Sơn để vào Ban Mê Thuột. Ngày Văn Tiến Dũng đi qua phía tây Kontum, Quân Đoàn 2 đã cho thả một đại đội trinh sát xuống quãng đường này để phục kích Văn Tiến Dũng nhưng không gặp vì đường Đông Trường Sơn ở khúc đó có quá nhiều nhánh, không biết đoàn xe đi đường nào.

ĐỊCH BẮT ĐẦU ĐÁNH NGHI BINH

Ngày 1.3.1975, Sư Đoàn 3 Sao Vàng tiến lên chốt đèo Mang Yang trên quốc lộ 19 nối liền Pleiku với Quy Nhơn và gây áp lực mạnh ở phía đông Pleiku. Điều này càng làm cho Tướng Phú tin hơn nữa rằng địch sẽ đánh Pleiku. Tướng Phú xin thêm viện binh để giữ mặt này. Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân được gởi đến tăng viện cho Pleiku. Tướng Phú liền ra lệnh Thiết Đoàn 2 Thiết Giáp do Đại Tá Nguyễn Văn Đồng chỉ huy phối hợp với Liên Đoàn này trấn giữ phía đông Pleiku. Năm 1989, khi gặp Đại Tá Đồng ở Saigon, ông cho chúng tôi biết mặt trận này khá nặng, vì địch rất đông, ẩn nấp trong trong các hóc núi pháo kích ra dữ dôi, nên mặc dầu có lệnh phá chốt, Thiết Đoàn 2 cũng không thể yểm trợ cho Liên Đoàn 4 thực hiện được.

Cũng trong ngày 1.3.1975, Sư Đoàn 968 tấn công chiếm hai đồn ở phía tây Thanh An và áp sát vào quận Thanh An. Điều này càng làm cho Tướng Phú tin địch sẽ đánh Pleiku.

Ngày 2.3.1975, Chi Trưởng CIA ở Quân Khu 2 tại Nha Trang đã lên Ban Mê Thuột báo cho Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng Ban Mê Thuột, biết Cộng quân đang chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột và yêu cầu Đại Tá Luật phải đề phòng. Đại Tá Luật thông báo cho Quân Đoàn thì ở đây cho biết cũng đã nhận được công điện của CIA vào buổi sáng. Tướng Phú liền ra lệnh cho Trung Đoàn 53 rút một tiểu đoàn đang hành quân tại Quảng Đức về phòng thủ Ban Mê Thuột và đưa Liên Đoàn 23 Biệt Động Quân từ Kontum đến thay. Cũng trong ngày này, tình báo của Cảnh Sát báo cáo phát hiện một đơn vị Cộng quân lảng vảng ở rừng cao su phía đông Ban Mê Thuột, gần quốc lộ 21.

Ngày 4.3.1975, Sư Đoàn 3 Sao Vàng cắt đứt quốc lộ 19 từ Quy Nhơn đến Pleiku, ở khúc Bình Khê và Suối Đôi. Hai Trung Đoàn 41 và 42 của Sư Đoàn 22 được lệnh phá cái chốt này nhưng không tiến lên nổi.

Ngày 5.3.1975, Trung Đoàn 25 của Cộng quân chốt quốc lộ 21 ở đèo Chư Cúc nằm giữa quận Khánh Dương và quận Phước An, phía đông Ban Mê Thuột. Một đoàn xe quân sự của Quân Lực VNCH di chuyển qua đèo Chư Cúc đã bị Cộng quân phục kích và bắn cháy, các binh sĩ bị bắt.

Trưa 5.3.1975, Sư Đoàn 320 cho một tiểu đoàn chận đánh một đoàn quân xa của Trung Đoàn 45 gồm 14 chiếc di chuyển trên quốc lộ 14, khúc phía bắc quận Thuần Mẫn. Đoàn xe này có kéo theo một khẩu đại bác 105 ly. Được tin này, Tướng Phú lại ra lệnh cho Trung Đoàn 45 đưa một tiểu đoàn hành quân lục lọi hai bên quốc lộ 14 để tìm các dấu vết của Sư Đoàn 320, nhưng không phát hiện được gì.

Ngày 7.3.1974, Cộng quân chiếm cứ điểm Chư Xê phía bắc Buôn Hô và cắt đứt quốc lộ 14. Sau đó, Cộng quân cho pháo kích vào Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 tại Phi Trường Cù Hanh ở Pleiku và mở những trận đánh lớn ở Bình Định để cầm chân Sư Đoàn 22 và đánh lạc hướng. Tướng Phú đã lấy máy bay đi quan sát mặt trận Bình Định. Đại Tá Trịnh Tiếu kể rằng sau khi thị sát các mặt trận Tam Quan, Bồng Sơn và đèo Mang Yang, Tướng Phú đã đưa ông và và một sĩ quan khác về Nha Trang ăn cơm tối ở nhà ông. Tại đây, bà Phú đã lên tiếng khiển trách các sĩ quan Quân Đoàn 2 trong việc cho oanh tạc cơ phá hủy đoàn xe của Sư Đoàn 968. Theo bà, Việt Cộng chỉ muợn đường của Quân Đoàn 2 để đi vô Nam, nhưng vì Quân Đoàn 2 đánh họ nên bây giờ họ đánh trả lại khắp nơi. Tướng Phú ngồi im lặng và tỏ ra chán nản.

Ngày 8.3.1975, Sư Đoàn 320 đánh chiếm quận Thuần Mẫn. Tại đây chỉ có một tiểu đoàn địa phương quân trấn giữ nên không cầm cự được lâu và đã bị thất thủ. Đường 14 bị cắt thêm ở khúc quận Thuần Mẫn.

TẤN CÔNG ĐỨC LẬP VÀ BAN MÊ THUỘT

1.- Số phận của Đức Lập: Đêm 8.3.1975, Sư Đoàn F.10 bắt đầu tấn công quận Đức Lập. Các căn cứ Núi Lửa và 23 bảo vệ Đức Lập bị tràn ngập.

Khoảng 10 giờ sáng ngày 9.3.1975, Tướng Phú và Bộ Tham Mưu Quân Đoàn 2 đã bay về Ban Mê Thuột họp với Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tư Lệnh Sư Đoàn 23, Đại Tá Võ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 23, Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng Darlac, Đại Tá Nguyễn Văn Nghìn, Tỉnh Trưởng Quảng Đức và Trung Tá Võ Ân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53. Đại Tá Nguyễn Văn Nghìn báo cáo Cộng Quân đã tấn công vào Đức Lập từ 5 giờ sáng với cấp số lớn, tình hình rất bi đát. Bộ Chỉ Huy Chi Khu bị trúng nhiều đạn 130 ly, bị hư hại nặng nên Chi Khu Trưởng phải đưa Bộ Chỉ Huy ra khỏi quận, nhưng vẫn đang chiến đâu. Tướng Phú theo dõi một tiểu đoàn của Trung Đoàn 53 đang chiến đấu với Sư Đoàn F.10 ở quận Đức Lập và được biết Trung Tá Nguyễn Cao Vực, Quận Trưởng Đức Lập, đã bị thương nhưng vẫn phải chỉ huy hai khẩu đại bác 105 ly bắn trực xạ để chống lại chiến thuật tấn công biển người của Cộng quân. Tướng Phú suy nghĩ và nói rằng tình hình Đức Lập không thể cứu vãn được nữa nên không tăng viện.

Khoảng gần 12 giờ, Tướng Phú đến thăm Chi Khu Darlac, ăn cơm trưa với Tướng Tường, Đại Tá Nghìn và Đại Tá Luật. Tướng Phú ăn vội vàng rồi ra phi trường Phùng Dực đáp máy bay về Pleiku để theo dõi tình hình chung của Quân Đoàn. Trước khi lên máy bay, ông quay lại nói với Đại Tá Luật: “Chú mày cẩn thận, coi chừng chúng nó đánh nghe!”.

Lúc đó trong thị xã Ban Mê Thuộc và vòng đai thành phố chỉ còn 2 tiểu đoàn của Trung Đoàn 53, một giữ ở ngã ba Dak Sak và một đóng ở căn cứ B.50 gần phi trường Phùng Dực, cùng với 2 chi đội thiết giáp và một đại đội pháo binh. Số còn lại là 2 tiểu đoàn Địa Phương Quân và Nghĩa Quân được phân tán mỏng để bảo vệ các kho trong thành phố. Cảnh Sát Dã Chiến được phân chia bố trí ở các cao ốc. Tướng Phú hứa sẽ cho thêm một chi đoàn thiết giáp và cho phép rút ngay tiểu đoàn 204 Địa Phương Quân ở Bản Đôn về bảo vệ thị xã.

Điều đánh ngạc nhiên là cho đến giờ phút đó, khi mọi tin tức quân báo và tình hình thực tế xác định địch chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột, Tướng Phú vẫn cho rằng địch sẽ đánh Pleiku. Ông lặp lại nhận định của ông là Cộng quân chỉ bao vây Ban Mê Thuột để làm kế nghi binh rồi bất thần tấn công vào Pleiku. Riêng tại mặt trận Ban Mê Thuột, Trung Tá Lê Nguyên Phả, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn 23, cho biết Tướng Phú đã nhận định một cách sai lầm rằng sau Đức Lập, Cộng quân sẽ đánh Buôn Hô, nên ông đã chỉ thị cho Đại Tá Lê Khắc Lý, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 2, xin Bộ Tổng Tham Mưu cho trực thăng chuyển Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân đang đóng tại Kontum, thả xuống quận Buôn Hô, cách thành phố Ban Mê Thuột 30 cây số về phía bắc. Cuộc chuyển vận quân khởi sự từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều mới chấm dứt.

Tối 9.3.1975, quận Đức Lập bị thất thủ. Sư Đoàn F.10 của địch đã làm chủ tình hình ở phía tây nam Ban Mê Thuột và đang tiến về thành phố. Vòng vây Ban Mê Thuột bắt đầu bị xiết chặt.

2.- Số phận của Tiểu Khu Darlac: Khoảng 2 giờ sáng ngày 10.3.1975, Cộng quân bắt đầu tấn công vào thành phố. Chúng mở đường bằng xe tăng và trọng pháo đủ loại. Mọi phía đều có địch.

Đến 8 giờ sáng, địch dùng chiến xa T.54 đánh chiếm kho Mai Hắc Đế của Bộ Chỉ Huy 5 Tiếp Vận. Đại Tá Võ Thế Quang chỉ thị Đại Tá Luật điều động một đại đội và 4 xe M.113 ra chốt ở Ngã Sáu để chận địch. Các oanh tạc cơ được phái đến yểm trợ. Lúc 11 giờ địch tấn công Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu.

Đến khoảng 9 giờ, tiểu khu cháy gần hết vì bị pháo, trừ khu truyền tin. Đại Tá Luật và Phó Tỉnh Trưởng Nguyễn Ngọc Vỵ chạy sang bản doanh Sư Đoàn 23, nhưng lính canh không chịu mở cổng. Đại Tá Vũ Thế Quang phải ra nhận diện rồi cho lệnh, lính mới mở cửa.

Thiếu Tá Hy, Trưởng Phòng 3 của Tiểu Khu, tiếp tục chỉ huy binh sĩ chống lại Cộng quân. Lúc 12 giờ 45, một trái pháo của địch bắn trúng hầm chỉ huy của Tiểu Khu, Bộ Tham Mưu Tiểu Khu phải rút ra khỏi vị trí. Lúc 13 giờ 30, Cộng quân tấn công vào Tiểu Khu. 14 giờ Cộng quân chiếm Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Đến 15 giờ, Đại Tá Quang không còn bắt liên lạc được với Tiểu Khu.

3.- Số phận của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23: Địch không nắm vững địa hình nên không tiến nhanh được. Đến 7 giờ sáng ngày 11.3.1975, Cộng quân mới tấn công vào Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23, nhưng lực lượng phòng thủ vẫn còn cầm cự được.

Lúc 10 giờ 10 phút, một phi vụ A-37 của Không Quân thả bom nhầm vào Trung Tâm Hành Quân của Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23. Mọi liên lạc với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 2 và Bộ Tổng Tham Mưu hoàn toàn bị phá hủy. Bộ đội và chiến xa của Cộng quân tràn vào hậu cứ Sư Đoàn 23 như nước vỡ bờ. Đại Tá Vũ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn, Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Darlac, quyết định mở đường máu đem đơn vị thoát khỏi hậu cứ.

Đại Tá Quang chỉ chạy sang khu thiết giáp nằm khuất sau bệnh viện. Các binh sĩ chạy theo. Khu thiết giáp còn hơn chục chiếc thiết vận xa M113 và một số lính, nhưng không thể ra lối trước vì sẽ đụng đầu với xe tăng của địch. Đại Tá Quang liền ra lệnh cho thiết vận xa cán lên hàng rào kẽm gai ở phía sau mà đi. Toán quân có chừng 200 người đã xuống được thung lũng và đến suối Đốc Học, một chỗ khuất và hơi kín. Đại Tá Quang định tử thủ tại đấy, nhưng Đại Tá Luật cho rằng chỗ đó trống trải quá. Hai người bàn cách đến Trung Tâm Huấn Luyện của Sư Đoàn 23 để từ đó bắt liên lạc lại với các đơn vị. Nhưng trung tâm này nằm ở phía bên kia thị xã Ban Mê Thuột nên rất khó đến được.

Đại Tá Quang muốn liều dẫn quân xâm nhập qua thành phố vào lúc đêm tối để tới trung tâm. Đại Tá Luật cho rằng lối đó quá nguy hiểm, muốn đi đường vòng qua rừng để đến. Bàn luận một hồi, hai ông quyết định ai muốn đi ngả nào thì đi. Có chừng 50 người theo Đại Tá Luật. Số còn lại theo Đại Tá Quang. Hai toán chia tay nhau vào khoảng 11 giờ.

Phó Tỉnh Trưởng Nguyễn Ngọc Vỵ theo Đại Tá Luật. Toán này lội bộ đến Buôn Ky, nhưng vừa vượt qua một ngọn đồi trọc đã thấy xe tăng của Cộng quân. Đoàn người chạy trở lại phía sau đồi, nhưng chạy mới được 10 thước, Đại Tá Luật té đánh bịch. Những người khác lo chạy thật lẹ. Ba ngày sau họ đều bị bắt. Đại Tá Quang, Đại Tá Luật và Phó Tỉnh Trưởng Vỵ đều được đưa về giam cùng một chỗ.

4.- Số phận của Liên Đoàn 21: Khi Cộng quân khởi đầu tấn công Ban Mê Thuột, Tướng Phú chỉ ra lệnh cho Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân do Trung Tá Lê Quý Dậu chỉ huy, từ Buôn Hô tiến bằng đường bộ về Ban Mê Thuột ở cách Buôn Hô khoảng 30 cây số.

Lúc 17 giờ chiều ngày 10.3.1975, Đại Tá Quang đã bắt liên lạc được với Liên Đoàn 21 đang tiến vào thành phố. Ông liền ra lệnh cho Trung Tá Dậu cho Tiểu Đoàn 72 chiếm lại Tiểu Khu và Tiểu Đoàn 96 lấy lại kho Mai Hắc Đế. Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và Cảnh Sát Dã Chiến đang quần thảo với địch trong thành phố để tranh từng tấc đất.

Liên Đoàn 21 đã vào được thành phố và lập được một số chiến công, nhưng khi cuộc giao chiến đang tiếp tục thì đùng một cái, Chuẩn Tướng Lê Trung Tường ra lệnh cho cho Trung Tá Dậu điều động Liên Đoàn 21 phối hợp với Địa Phương Quân còn lại rút về vây quanh sân bay L.19 trong thành phố để ông phái trực thăng đến đón 21 người trong gia đình của ông đang kẹt tại sân bay này. Mặc dầu có sự yểm trợ của cả Địa Phương Quân lẫn Liên Đoàn 21, trực thăng của Tướng Tường phái đến cũng không đáp xuống được vì địch pháo kích dữ quá. Cuối cùng Chuẩn Tướng Tường đã ra lệnh lấy một thiết vận xa M.113 chở toàn bộ gia đình của ông tới Trung Tâm Huấn Luyện cách thị xã khoảng 3 cây số để trực thăng đến đón. Liên Đoàn 21 và Địa Phương Quân phải rất vất vả mới đưa được gia đình Tướng Tường ra khỏi vùng giao tranh và yểm trợ cho trực thăng tới đón. Khi trực thăng bốc được gia đình Chuẩn Tướng Tường đi rồi thì địch đã chiếm gần như toàn bộ thành phố Ban Mê Thuột. Liên Đoàn 21 tiến về sân bay Phùng Dực để phối hợp tác chiến với một tiểu đoàn của Trung Đoàn 53 ở căn cứ B.50 thì bị chận đánh phải lui ra khỏi vòng đai thành phố và bị vây ở Đạt Lý.

5.- Số phận của hậu cứ Trung Đoàn 53: Hậu cứ của Trung Đoàn 53 đóng ở căn cứ B.50, gần phi trường Phùng Dực do một tiểu đoàn của Trung Đoàn 53 trần giữ và một đại đội thám báo của Trung Đoàn 45 tăng cường. Đại đội này rất thiện chiến.

Căn cứ B.50 vốn là một trại lực lượng đặc biệt cũ của Mỹ có chu vi trên một cây số, với những công sự được xây cất rất kiên cố, có tất cả 11 hầm đủ sức chịu đựng được đạn 130 ly, xung quanh có xếp bao cát cao làm thành những ụ chiến đấu cá nhân. Ở xa xa là một vòng đai hàng rào kẻm gai nhiều lớp bao bọc. Tiểu của Trung Đoàn 53 đóng trong căn cứ, còn Đại Đội Thám Báo do Thiếu Úy Nguyễn Công Phúc chỉ huy đóng trên phi trường Phùng Dực, giữa các ụ bảo vệ phi cơ.

Đêm 10.3.1975, hậu cứ Trung Đoàn 53 và phi trường Phùng Dực bị pháo kích nặng. Đến 5 giờ sáng căn cứ bị địch tấn công từ hai phía đông bắc và đông nam. Địch chiếm được một phần căn cứ. Nhưng đến 8 giờ sáng, quân trú phòng đã phản công, Cộng quân bị đánh dạt sang một bên. Một cánh quân của Cộng quân đã chạy qua khu đất trống của phi trường nên bị Đại Đội Thàm Báo bắn tỉa phải chạy vào bìa rừng cao su gần phi đạo, để lại hơn 40 xác chết, một số vũ khí và quân trang quân dụng. Sau đó, Cộng quân trở lại tấn công nhiều lần, nhưng đều bị đẩy lui.

Tiểu đoàn của Trung Đoàn 53 cầm cự kéo dài đến ngày 18.3.1975 thì phải mở đường máu chạy thoát về hướng Lạc Thiện, sau khi có lệnh rút khỏi Cao Nguyên. Tướng Phú và Bộ Tham Mưu đã lên máy bay đi tìm và bắt được liên lạc, nhưng số tàn quân ở cạnh Trung Tá Ân lúc đó chỉ còn khoảng 20 người.

Đêm 16.3.1975, khi Cộng quân pháo như vũ bảo vào phi trường, Thiếu Úy Phúc liên lạc với Trung Đoàn 53, nhưng không ai trả lời. Gần sáng, Cộng quân cho xe tăng tấn công căn cứ Trung Đoàn 53 và chiếm căn này, sau đó tiến qua phi trường thanh toán Đại Đội Thám Báo còn sót lại. Không có tiếp tế, hết đạn dược, phải dùng AK 47 của địch bỏ lại để chiến đấu, Thiếu Úy Phúc phải xin phi cơ đến oanh tạc để rút ra. Đúng lúc Cộng quân đang tập trung quân, phi cơ được thám báo hướng dẫn đã đến dội bom xuống đầu địch. Nhờ những trái bom này, Đại Đội Thám Báo còn lại hơn 50 người đã rút chạy vào khu rừng cao su. Khi vào được trong rừng thì chỉ còn lại khoảng 30 người. Nhưng sau đó Cộng quân lại đến tấn công. Thiếu Úy Phúc và một y tá thoát khỏi cuộc phục kích, nhưng rồi ngày 22.5.1975 cũng bị bắt khi mò xuống suối uống nước.

Như vậy, Trung Đoàn 53 và Đại Đội Thám Báo đã bảo vệ căn cứ B.50 và phi trường Phùng Dực được 18 ngày khiến Cộng Quân phải kính nể

LÀM TAN NÁT MỘT ĐỘI QUÂN

Không nắm vững chiến lược và chiến thuật của địch, Tổng Thống Thiệu cũng như Bộ Tổng Tham Mưu đã để mất cái chốt quan trọng thứ hai bảo vệ miền Nam là Đức Lập sau khi đã bỏ mất cái chốt thứ nhất là Thường Đức vào tháng 8 năm 1975.

Sự tính toán sai lầm nghiêm trọng của Tướng Phạm Văn Phú đã làm mất Ban Mê Thuột, kéo theo hậu quả là làm mất toàn miền Nam.

Thật ra, theo sự đánh giá của các sĩ quan cao cấp cùa QLVNCH, Tướng Phú không đủ khả năng điều khiển một quân đoàn. Sở dĩ ông được đi làm Tư Lệnh Quân Đoàn 2 là do sự vận động của bà Lâm Đệ, vợ ông (thường được Phạm Huấn gọi là “Chị Hai”). Theo Đại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Đoàn 2, bà Lâm Đệ đã vận động với bà Đinh Thị Yến, vợ của Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, để Tướng Phú được cử vào chức vụ này. Khi ông đi nhận chức, Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH, đã không tiếp.

Sau khi nhận chức, công việc chính của Tướng Phú không phải là mặt trận mà lo kiếm tiền đóng hụi chết. Trung Tá Trần Tích, Trưởng Phòng 1 của Quân Đoàn 2 cho biết, sau khi rút khỏi Cao Nguyên và chạy về tới Nha Trang, Tướng Phú còn hỏi ông: “Anh xem có ai muốn đi làm tỉnh trưởng không?” Trung Tá Tích ngạc nhiên hỏi lại: “Giờ này mà Thiếu Tướng còn tìm tỉnh trưởng làm gì nữa?” Tướng Phú buồn rầu trả lời: “Tháng này chưa có 2 triệu đóng cho Trung Tướng”!

Trung Tướng Dặng Văn Quan, Cố Vấn An Ninh của Tổng Thống Thiệu, và Chuẩn Tướng Lê Trung Tường (cùng khóa Đập Đá với Tướng Thiệu), Tư Lệnh Sư Đoàn 23, đã dọn về ở Orange County, California, nhưng khi nghe chúng tôi kể chuyện trận Ban Mê Thuộc trên Sài Gòn Nhỏ và trên đài VOV, Tướng Quang đã bỏ qua Georgia, còn Tướng Tường về ở Việt Nam luôn. Những chuyện bi thảm như thế này còn nhiều lắm, chúng tôi sẽ kể sau.

Nhìn lại, chúng ta thấy các sĩ quan và binh sĩ ngoài mặt trận đã chiến đấu rất thiện chiến và rất anh dũng, sẵn sàng hy sinh cho Tổ Quốc, trong khi một số tướng lãnh có quyền trong tay quá yếu kém và tham những, đã đẫy họ vào đường cùng và làm mất nước!

Nhân kỷ niêm 30 năm ngày mất miền Nam, chúng ta tuyên dương tất cả các chiến sĩ VNQH ở mặt trận. Tổ Quốc sẽ ghi nhớ công ơn của họ. Riêng trong trận Ban Mê Thuột, chúng tôi xin ghi nhân công ơn của các chiến sĩ sau đây:

- Trung Tá Nguyễn Cao Vực, Quận Trưởng Đức Lập và các chiến sĩ cùng chiến đấu với ông.

- Trung Tá Võ Ân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 và các chiến sĩ ở căn cứ B.50.

- Trung Tá Lê Quý Dậu, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân và các chiến sĩ thuộc Liên Đoàn này.

- Các Nghĩa Quân, Địa Phương Quân và Lực Lượng Cảnh Sát ở Ban Mê Thuột.

- Thiếu Úy Nguyễn Công Phúc, Đại Đội Trưởng Đại Đội Thám Báo của Trung Đoàn 45, và các binh sĩ dưới quyền, đã chiến đấu rất anh dũng tại phi trường Phùng Dực cho đến giờ phút cuối cùng.

Ngày nay, tỉnh lỵ Darlac không còn được gọi là Ban Mê Thuột nữa mà trở lại tên cũ là Buôn Ma Thuột, và quận Đức Lập trở thành huyên Dakmil. Nhưng những chiến công oai hùng của các chiến sĩ VNCH sẽ mãi mãi được lịch sử ghi nhớ.
Lữ Giang

Monday, June 1, 2009

ÐI TÌM NHÂN CHỨNG

NHỮNG CON SỐ LỊCH SỬ -
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 , tất cả quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đều trở thành đối tượng của “chế độ lao động cải tạo”, một chính sách do cộng sản Việt Nam du nhập từ Trung cộng và được tôi luyện từ miền Tây Bá Lợi Á của thiên đường Sô viết ..
Tài liệu của Viện Bảo Tàng Việt Nam tại San Jose ghi nhận số lượng tù cải tạo như sau :
- Năm 1975 QLVNCH có 980.000 quân nhân gồm 1/10 cấp Tá và cấp Tướng tổng cộng 9.600, cấp úy là 80.000 , còn lại là hạ sỹ quan và binh sĩ .
- Cấp Tướng tại ngũ đến 30 tháng 4 năm 75 là 112 ; bị tù cải tạo: 32 vị , 80 tướng lãnh di tản và 1 số nhỏ không bị bắt giam .
- Ðại tá có 600, bị tù 366 .
- Trung tá có 2.500 , bị tù 1.700 .
- Thiếu tá có 6.500 , bị tù 5.500 .
- Cấp úy có 80.000 , bị tù 72.000 .Trong số này bao gồm cả nữ quân nhân cũng như thành viên đảng phái và các cấp chính quyền .
Ðây là con số ghi nhận được từ phía Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa, không có tài liệu của các trại giam phía cộng sản để đối chiếu; và không có con số chính xác tù cải tạo bị chết trong khi giam cầm.
~~~~~~~~~~~~~~~~
Ghi chú: Tất cả danh từ “cải tạo” thực sự đều là tù chính trị.



NHỮNG NGƯỜI TÙ KHÔNG ÁN -
Không kể thành phần bị bắt trước 1975 nhưng không được trao trả tù binh sau 1973, thì thời gian tù “cải tạo” kéo dài từ 1 năm đến 17 năm. Từ 1975 đến 1992 .
Năm 1988 gần như là năm cuối cùng, hầu hết tù được trả tự do.
Suốt 4 năm tiếp theo chỉ còn lại 120 tù bị giam tại Z30D gọi là Trại Thủ Ðức tại Hàm tân. Trong số này có 9 vị tướng lãnh. Ðại tá Phạm Duy Khang khóa 6 Võ bị, làm thư ký Trại còn nhớ tên từng người.. 4 Thiếu tướng : Lê Minh Ðảo, Ðỗ kế Giai, Trần Bá Di, Nguyễn Ngọc Sang, và 5 Chuẩn Tướng: Lê Văn Thân, Hoàng Lạc, Mạch Văn Trường, Trần Quang Khôi, Phạm Duy Tất.
Cấp Ðại tá có 22 người, 20 thiếu tá và các thành viên cảnh sát, đảng phái
Thiếu tướng Ðỗ Kế Giai tả lại quang cảnh khi tất cả mọi người được thả hết chỉ còn mấy ông Tướng. Trại Hàm Tân hoàn toàn vắng lặng. Cộng sản cho xe chở 5 ông tướng về chuyến cuối cùng . Vì đường đi thuận tiện, xe về Saigon đến nhà các vị Tướng khác hết 1 vòng, Thiếu Tướng Ðỗ Kế Giai là người về sau cùng. Ông bước xuống xe, tâm trạng thực băn khoăn khó tả. Tù vừa tròn 17 năm.. Những ông tướng khác về trước ông chừng nửa giờ nên tướng Giai là người sau cùng, theo ý nghĩa tiêu biểu của lịch sử .
Hỏi chuyện ngục tù, ông Giai nhắc lại câu danh ngôn của người xưa: “ Bại binh chi tướng, bất khả ngôn dũng “ (Tướng quân thua trận, không thể nói mạnh)
Lại hỏi rằng, suốt thời kỳ 17 năm có thấy cộng sản hay thế giới tự do vào quay phim hay chụp hình để bây giờ có thể đi tìm dấu tích của những năm dài “cải tạo”; vị chỉ huy trưởng binh chủng Biệt động quân cho biết, dường như chẳng thấy gì.

NHỮNG NĂM THÁNG KHÔNG QUÊN -
1975 : Hàng trăm ngàn quân cán chính Việt Nam Cộng Hòa bị cộng sản tập trung “cải tạo”.
1980 : Sau 5 năm tranh đấu, dư luận Mỹ và thế giới áp lực Hà Nội phải thả tù .
1982 : Tại Pháp, Phạm văn Ðồng, Thủ tướng Hà Nội thách thức sẽ trả tự do nếu Mỹ nhận hết tù cải tạo .
1982 : Ngoại trưỡng Mỹ điều trần tại Quốc hội cho biết sẽ nhận 10.000 tù chính trị Việt Nam và gia đình .
1985 : Lần đầu tiên , cơ quan IRCC,Inc. tại San Jose nhận được 1 video tape do phóng viên tự do Hoa Kỳ quay tại Việt Nam .Trong
đó có những đoạn hết sức đặc biệt :
1) Phi công Việt Nam Cộng Hòa, vừa được tự do.
2) Vợ con tù thăm nuôi tại Hàm tân.
3) Ban văn nghệ của Trại Hàm Tân.
4) Phỏng vấn 1 người tù cụt chân cấp Thiếu tá.
1985 : Hoa Kỳ và Việt Nam gặp nhau tại New York bàn về việc thả tù cải tạo.
1987 : Lần đầu tiên nhà báo Thụy Ðiển được vào làm phóng sự tại Trại Nam Hà , tiếp theoHà Nội bắt đầu chuyển thêm tù cải tạo vào
Nam và trả tự do từng đợt .
Tháng 7 năm 1988 : Phái đoàn Funseth đi Hà nội họp về việc nhận tù cải tạo.
Tháng 8 năm 1988 : Hà Nội đơn phương loan báo đình chỉ việc thảo luận.
Tháng 1 năm 1989 : Lần đầu tiên Hồng thập tự Hoa Kỳ được phép gửi quà cho tù “cải tạo” .
Một chiến dịch gửi quà được phát động tại hải ngoại .
Tháng 4 năm 1989 : Phái đoàn Quốc hội Cali về Việt Nam thảo luận về đề tài xã hội và tù “cải tạo”. Có các thành phần tỵ nạn Việt
Nam cùng đi. Ðại diện IRCC trách nhiệm tiểu ban tù chính trị. Phái đoàn yêu cầu trả tự do cho Võ Ðại Tôn.
Phỏng vấn thu thanh Phan Nhật Nam vừa được tự do tại Saigon.
Tháng 6 năm 1989 :Thượng viện Mỹ tuyên bố yêu cầu Hà Nội trả tự do cho tù “cải tạo” và Hoa Kỳ sẽ đón nhận .
Tháng 7 năm 1989 :Phái đoàn Hoa kỳ về Việt Nam ký thỏa ước nhận định cư tù “cải tạo”
Tháng 8 năm 1989 :Báo San Jose Mercury News gửi phóng viên về Saigon làm một loạt bài phỏng vấn “tù cải tạo” sắp ra đi có gia
đình chờ đợi tại San Jose .
Tháng 1năm 1990 : 15 gia đình H.01 đi chuyến đầu tiên đến phi trường San Francisco, có
4 gia đình về Bắc Cali . 11 gia đình chuyển tiếp đến các tiểu bang khác và Quận Cam Tháng 8 năm1993 : Ðại tá
Phạm Duy Khang, sau 17 năm tù đã trở về đợt sau cùng với 120 người . Ông đến San Jose và dự lễ thượng kỳ
ngày 8/8/1993 .
Sau đó các đợt HO bổ túc và chương trình đoàn tụ gia đình HO lần lượt tiếp diễn suốt 15 năm từ 1994 đến 2009. Cho đến tháng 4 năm 2009 vẫn còn gia đình thuộc diện “tù cải tạo” đến Hoa Kỳ.


VietMuseum, San Jose

NHỮNG THIÊN ANH HÙNG CA -
Trước năm 75, miền Nam xây dựng hai nền cộng hòa đã tồn tại hết sức hào hùng qua hai chiến dịch tấn công của địch. Chúng ta đã đứng vững trong trận Mậu Thân 68 và vượt qua trận mùa hè 72.
Sau 1975 miền Nam thất thủ nhưng vẫn còn ghi thêm hai thiên anh hùng ca bất tử. Người chiến sĩ sống còn sau trận “cải tạo” và toàn dân miền Nam thành công với những chuyến đi của thuyền nhân tỵ nạn. Chúng tôi đã có bài viết về thuyền nhân và riêng bài này xin dành cho câu chuyện tù “cải tạo”. Lần lượt đã kể ra những con số lịch sử, những người tù không án, những ngày tháng không quên, những dữ kiện tuy khô khan cằn cỗi nhưng chính là máu xương của một đạo quân, của một thể chế dân chủ không còn nữa.
Từ những con số này chúng ta hãy đi tìm nhân chứng và thu hồi di sản dành cho trang sử gửi thế hệ tương lai.


ÐI TÌM NHÂN CHỨNG -
Trong số muôn vàn lãnh vực, xin đưa ra một vài thí dụ để chứng minh về câu chuyện tù “cải tạo.” Trong hơn 10 năm tù đày, người tù miền Nam đã sáng tạo biết bao di vật để dùng và để làm quà kỷ niệm gởi cho mẹ, cho vợ, cho con. Chúng tôi cần những di vật đó. Chúng tôi đã có, nhưng chưa đủ.
Thư từ là những liều thuốc thần diệu để người tù nhờ đó mà sống trong hy vọng. Chúng tôi cần giử lại những lá thư của tình yêu, bằng hữu và gia đình. Chúng tôi đã có, nhưng chưa đủ.
Chúng tôi thường nghe nói khi người cha đi tù, thì mẹ đi bán thuốc lá bên lề đường. Khi cha về phải đi đạp cyclo. Trong suốt 20 năm, chúng tôi đi tìm những tấm hình như thế nhưng không có. Cho đến năm 2008 mới tình cờ có được các hình ảnh quý giá. Nhưng vẫn còn đón chờ thêm các tài liệu tương tự.
Chúng tôi được biết có nhiều gia đình cả hai vợ chồng đều đi tù cải tạo. Cả cha con đều bị tù và nhiều anh em một nhà cùng chung số phận. Chúng tồi còn cần thêm những sử liệu như thế.


CAN TRƯỜNG TRONG CHIẾN BẠI -
Vị tướng hải quân vùng một, phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại có xuất bản một tác phẩm hồi ký. Ông lấy câu chuyện đứt phim 1975 để đặt tựa cho cuốn sách. Tình cờ chúng tôi có được tấm hình chụp hai chiến binh của sư đoàn 3 bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bị bắt làm tù binh tại Quảng Trị khi Cộng quân tấn công 1972. Hình này nằm trong bộ sưu tầm độc đáo của một phóng viên Anh quốc.
Hai chiến binh Cộng Hòa bị địch quân giải về khu tập trung tù binh bên kia biên giới và một phóng viên của cộng sản Hà Nội đã chụp được tấm hình chân dung bất hủ xứng đáng gọi là “Can trường trong chiến bại”. Khuôn mặt người lính số 2 dựa vào người chiến binh số 1. , Anh số 1 có thể là sĩ quan.. Anh sỹ quan trẻ này bị thương ở tay còn băng bó, mặt còn mang dấu của các mảnh trái pháo, ánh mắt buồn bã nhưng vẫn đầy vẻ bất khuất.
Suốt đời tôi, chưa bao giờ nhìn thấy một gương mặt đầy ẩn dụ như vậy.
Bài viết sẽ đăng kèm tấm hình độc đáo này. Giờ này anh ở đâu?
Trên tài liệu DVD do IRCC, Dân Sinh và Viện Bảo Tàng San Jose sẽ phát hành ngày quân lực 2009, chúng tôi phổ biến rộng rãi để nhắn tin đến bốn phương trời ngõ hầu tìm cho được người lính chiến bại có nét mặt can trường của sư đoàn 3 bộ binh.


A wounded ARVN in pain beside another prisoner at fire base QuangTri
overrun by NVN, March 1972 - Another VietNam, Tim Page Collection.

THIẾU TÁ ÐỘC CƯỚC LÊ HỮU CƯƠNG -
Câu chuyện sau cùng xin nói về người tù cải tạo Lê Hữu Cương, khóa 16 võ bị Ðà Lạt, quận trưởng Củ Chi. Số là ngay từ đầu năm 1985 tình cờ chúng tôi gặp được một anh phóng viên Hoa Kỳ tặng cho video tape quay phóng sự Saigon từ 1984, trong đó có những đoạn hết sức đặc biệt. Câu chuyện một phi công cựu tù, mới được tự do có mở tiệm bán đồ nhậu tại Saigon. Ðối thoại bằng Anh ngữ.. Xin hãy tưởng tượng lúc đó là năm 1985, chúng tôi coi phim mà lòng dạ nôn nao. Xúc động dâng lên khóe mắt. Anh em cùng ngồi xem mà mặt mũi ai nấy hết sức căng thẳng. Cho đến nay chúng tôi vẫn không biết anh phi công này là ai.
Một đoạn khác, quay tại trại tù Z30D tại Hàm Tân. Trại tù khang trang sạch sẽ và rất ít người. Ai mà chẳng biết là cộng sản đã cho dọn dẹp và lùa tù đi làm, chỉ còn lại cả trại trống vắng.. Phóng viên quay phim và anh chàng làm phóng sự đi cùng một thông dịch viên.. Ban văn nghệ của trại được giới thiệu hát một bài. Khán giả duy nhất là anh phóng viên Mỹ. Nhạc trưởng là ca sĩ chính nét mặt hết sức đau khổ và cam chịu. Ông trả lời cấp bậc là thiếu tá, đã ở trại này nhiều năm. Dường như cũng từ Nam Hà chuyển về.

Một đoạn khác là cảnh tù “cải tạo” được vợ con lên thăm. Xin lưu ý đây là thời điểm của năm 1984 ở trại tù miền Nam và cảnh này được trình diễn cho báo Mỹ quay phim. Tuy nhiên nếu lưu ý vẫn nhìn ra được những nỗi đoạn trường.
Sau cùng, chúng tôi được xem đoạn phim đặc biệt. Một tù cải tạo cụt chân ngồi cầm cặp mắt kiếng. Mắt anh rất sáng và dáng ngồi bình thản.
Gần như bất chợt, anh phóng viên hỏi bằng anh ngữ và người tù trả lời trực tiếp cũng bằng anh ngữ. Anh cấp bậc gì? -Thiếu tá. Anh có đủ ăn không? -Có được ăn, nhưng biết thế nào là đủ. Người tù hỏi ngược lại? Phóng viên Mỹ nói: Có phải người công an này đứng đây nên anh không trả lời? (Ðến đây phóng viên ra hiệu yêu cầu quản giáo đi ra). Không đủ ăn phải không ? Not enough? Trả lời, -Yes, not enough. Anh có điều gì nhắn gởi với tổng thống Reagan không? -Tôi muốn được tự do. Tôi muốn rằng thế giới tự do cứu chúng tôi. Cho chúng tôi được tự do càng sớm càng tốt.
Máy quay phim chiếu xuống bàn tay cầm mắt kiếng. Rồi chiếu lên khuôn mặt người tù với ánh mắt ngời sáng như ánh thép trong ngục tù.
Chúng tôi bị ánh mắt này theo đuổi trong nhiều năm. Suốt 20 năm, từ 1985 đến 2005 đã có ý hỏi thăm về người thiếu tá cụt chân này là ai, còn sống hay đã chết.
Năm 2005 Asia quay video tại Hoa Thịnh Ðốn kỷ niệm 30 năm biệt xứ, chúng tôi có cơ hội giới thiệu dự án viện Bảo Tàng và đồng thời có chiếu đoạn phim này trong phần tài liệu.
Tiếc thay, dù đã có hàng chục ngàn khán giả nhưng vẫn không ai nhận ra người tù bất khuất
Mãi đến năm 2007 vừa qua, chúng tôi tìm được tin tức thì nhân chứng không còn nữa. Người đó là thiếu tá Lê Hữu Cương, khóa 16 võ bị, mới ra trường đã bị thương với cấp bậc trung úy. Anh bị cưa một chân nhưng tiếp tục tại ngũ. Tốt nghiệp chỉ huy tham mưu và học xong lớp quân chánh thì về làm quận trưởng Củ Chi. Ông là một trong số rất hiếm hoi các sỹ quan cấp tá, mất một chân mà vẫn còn làm chi khu trưởng tại vùng đất dữ nhất của miền Ðông Nam phần.
Sau 1975 ông đã bị tù, giải ra Bắc, rồi đưa về miền Nam và tình cờ gặp phóng viên Mỹ tại Hàm Tân. Thiếu tá Cương H0 đến Hoa Kỳ đúng ngày 4/7/1991 và cư ngụ tại Orange County. Trong suốt thời gian dài trên 10 năm sống tại miền Nam Cali, Lê Hữu Cương đã sinh hoạt với giới văn nghệ, báo chí, nhưng chính ông và anh em cũng chẳng ai được xem đoạn phim quay trong tù mà ông đóng vai chính.
Năm 2000, Lê Hữu Cương viết hồi ký về cuộc đời có kể lại đoạn được hỏi chuyện trong tù bởi phái đoàn Mỹ. Trong cuốn tự chuyện này, chúng tôi mới được đọc qua đã thấy được hai điều phải ghi lại, Lê Hữu Cương sinh trưởng tại Huế và đã gặp thảm kịch đau thương khi mẹ và ba em gái của ông bị cộng sản giết trong kỳ Mậu Thân.
Câu chuyện thứ hai cần phải ghi lại là tinh thần tương trợ hết sức hào hùng của các cựu sinh viên sỹ quan Ðà Lạt khóa 16 thể hiện trong tù đã giúp cho Lê Hữu Cương, dù chỉ có một chân đã sống còn.
Nhưng tiếc thay khi bộ phim Asia phổ biến năm 2005 thì sau đó chúng tôi cũng đã được tin Lê Hữu Cương đã qua đời tại Miền Nam California.
Nhân chứng của một trang sử H0 không còn nữa.


Major LeHuu Cuong 1970 SaiGon and 1984 Hàm Tân, VietNam - (Photo from Video)

Ðó là lý do chúng tôi viết bài này phổ biến trên báo, đọc bài này trên các chương trình phát thanh và ghi lại các hình ảnh có được trên DVD phát hành ngày quân lực tháng 6 năm 2009.
Xin hãy đọc báo, xin hãy xem hình, xin hãy nghe radio, xin hãy đón coi DVD để thấy rằng lịch sử đã được gom lại như thế nào? Phải được thu hồi như thế nào? Cần được tập trung như thế nào? Trước khi di sản mai một và nhân chứng không còn nữa.
Xin hãy liên lạc về IRCC, Inc. số 1445 Koll Circle, suite 110, San Jose, CA 95112.
Tel: 408-392 9923 để có được đoạn phim đối thoại hào hùng duy nhất trong tù của thiếu tá độc cước Lê Hữu Cương, người nhân chứng không còn nữa. Bộ DVD “Chân dung người lính VNCH” của viện Bảo tàng Việt Nam còn có hình ảnh người phi công ngồi hát bản tình ca trên hè phố Sài Gòn ngay từ 1984. Người vợ thăm chồng “cải tạo”, ông nhạc trưởng của ban văn nghệ Hàm Tân ca vang bản nhạc vui với bộ mặt sầu thảm như dao cắt trong lòng. Và sau cùng là hình ảnh người lính vô danh của sư đoàn 3 bộ binh tiêu biểu cho danh hiệu “Can trường trong chiến bại”.
Xin hãy cùng chúng tôi lên đường đi tìm nhân chứng cho thiên anh hùng ca của QLVNCH sau tháng tư 1975.

Giao Chỉ, San Jose.

Wednesday, May 6, 2009

Thư kêu gọi ủng hộ xây cất Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân

Monday, May 04, 2009

Mô hình Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân tại Ottawa.


LTS.- Nhật báo Người Việt nhận được bức thư sau đây của Liên Hội Người Việt Canada gởi đến nhờ loan tải.

Kính gởi: Quý vị lãnh đạo tinh thần, đại diện các hội đoàn người Việt, đại diện các cơ sở truyền thông và mạnh thường quân,

Chúng tôi xin gởi đến quý vị một số tin tức mới về diễn tiến của dự án Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân (VBTTN) tại Ottawa, Canada, do Liên Hội Người Việt Canada khởi xướng.

- Liên Hội đã mua được một miếng đất trị giá 600,000 đô la (Canada) để xây VBTTN tại góc đường Preston và Somerset, trung tâm thành phố Ottawa, đối diện Ðài Kỷ Niệm Việt Nam, do Liên Hội Người Việt Canada hoàn thành năm 1995. Liên hội đã trở thành sở hữu chủ của miếng đất này kể từ ngày 30 Tháng Tư, 2009.

- Hiện giờ dự án VBTTN đã nhận được, hoặc được hứa chắc chắn sẽ đóng góp, khoảng 355,000 đô la.

- Ngoài ra, liên hội đã ký giấy tờ bán căn nhà hiện dùng làm trụ sở của Trung Tâm Người Việt Canada, tọa lạc tại số 249 đường Rochester, để lấy tiền (400,000 đô la) cho vào dự án VBTTN. Sau khi viện bảo tàng được hoàn tất, Trung Tâm Người Việt Canada sẽ dời về địa chỉ này.

- Hai số tiền trên đây, tổng cộng khoảng 755,000 đô la, lên tới hơn 1/3 (37.5%) của ngân quỹ dự trù (2 triệu đô la). Liên Hội dự định sẽ gây quỹ thêm số tiền còn lại trong năm 2009 để khởi công xây cất vào năm 2010.

Chúng tôi mong được đồng bào khắp nơi hỗ trợ bằng cách phổ biến tin tức về dự án Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân và ủng hộ tài chánh. Quý vị mạnh thường quân có thể đóng góp bằng cách gởi ngân phiếu (cheque) hay lệnh phiếu (money order), dùng thẻ tín dụng (VISA), hoặc qua PayPal (tại Hoa Kỳ) và gởi về địa chỉ sau đây:

Vietnamese Canadian Centre/Museum Project

249 Rochester St.

Ottawa, ON K1R 7M9

Canada

Xin xem chi tiết trên trang nhà www.vietfederation.ca, hoặc liên lạc với văn phòng Liên Hội Người Việt Canada tại số (613) 230-8282, fax (613) 230-8281, email: vietfederation@yahoo.ca.

Mọi đóng góp đều có giấy chứng nhận để miễn trừ thuế.

Trong tình trạng kinh tế khó khăn hiện nay, nhiều người không có khả năng tài chánh để đóng góp một cách rộng rãi. Tuy nhiên, nếu mỗi người vận động được 10 người khác ủng hộ 100 đô la/người, và nhờ những người này tiếp tay vận động, Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân sẽ sớm được hoàn thành.

Kính thư,

Bác Sĩ Trần Ðình Thắng, đại diện Chủ Tịch Ðoàn

Ngô Văn Út, Tổng Thư Ký

Lê Duy Cấn, Ủy Viên Ngoại Vụ & Trưởng Dự Án Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân

Friday, April 17, 2009

Tuyết Rơi Giữa Sài Gòn



(Bút ký của một phóng viên hình ảnh Mỹ vê Tháng Tư 1975)

Tuyết Rơi Giữa Sài Gòn

Bút ký của một phóng viên hình ảnh Mỹ

Đôi lời vào chuyện: - Tháng Tư năm 1975, Dirck Halstead ký hợp đồng trở lại với tạp chí TIME MAGAZINE. Trước kia ông cũng đã làm việc cho tạp chí này từ mùa xuân 1972. Rút kinh nghiệm quá trình công tác, Dirck Halstead yêu cầu TIME đừng đưa ông đi chụp hình tổng thống Mỹ hoặc làm phóng sự chiến tranh, vì ông đã chán ngấy những môi trường làm việc đó.

Thế nhưng "người muốn mà trời định" nên chi hai tuần sau khi ký hợp đồng, Dirck Halstead lại phải lặn ngụp dưới hố nước trên quốc lộ 13 của Việt Nam để tránh né đạn pháo của quân Bắc Việt. Nếu không thì đời tàn qua ngõ hẹp rồi! Dựa vào kinh nghiệm và biệt tài của đương sự, tạp chí TIME cần có một người để theo dõi giai đoạn gay cấn của một chiến trường. Việt Nam - một đất nước mà hơn hai mươi năm qua, ông đã gắn bó sự nghiệp, với những thăng trầm nặng tính yêu thương và hờn
giận - đang trên đà sụp đổ. Nên chi, ghét của nào, trời trao của ấy, Dirck Halstead đành phải mang máy ảnh trở lại Việt Nam.

Đoạn bút ký sau đây của Dirck Halstead chỉ ghi được mười ngày cuối cùng của Sài Gòn - và đặc biệt trên cương vị của một phóng viên hình ảnh Mỹ - nhưng cũng cho người Việt Nam chúng ta thấy được một khía cạnh khác của một đồng minh tháo chạy trong ngày 30 tháng Tư lịch sử đó. Ký sự về "ngày tuyết rơi trắng xóa Sài Gòn", Dirck Halstead định viết ra mấy lần nhưng không thành. Năm 2000, nhân dịp kỷ niệm thứ hai mươi lăm ngày Sài Gòn tan hàng, ông mới ghi lại đuợc và đưa lên tờ
"báo-kỷ-thuật-số" (The Digital Journalist), do ông chủ trương và biên tập. Phần lớn những hình ảnh kèm theo bút ký này do ông đích thân thực hiện.

******

Chương 1: Trở lại Paris của phương Đông

Ngày 20 tháng 4, 1975 - Sân bay Hong Kong
Tôi đang nửa tỉnh nửa say sau khi uống nhiều rượu ở khu hạng nhứt của chuyến bay Pan Am, cất cánh từ New York, và gật gà gật gù vì chênh lệch giờ giấc. Đang nối đuôi rồng rắn ở quầy vé Hàng không Việt Nam để lấy chỗ đi tiếp đến Sài Gòn, tôi thấy có hàng chữ thông tin cho biết "Tất cả các chuyến bay đi Sài Gòn đều bị hủy bỏ".
Bộ Sài Gòn đang bị phi cơ tấn công sao cà? Như vậy là nghĩa lý gì đây? Suốt cuộc chiến tranh, Bắc Việt chẳng bao giờ có chuyến bay nào đến Sài Gòn. Một nhóm du khách kỳ lạ, tôi chưa từng thấy bao giờ, đi lảng vảng quanh quày vé. Nào là những chàng híp-pi nghiện ngập, với những cái nhìn kỳ quặc, nào là những người lính đánh thuê với những túi ba lô đầy ấp, chẳng khi nào đưa qua kiểm soát, và dĩ nhiên là những chuyên viên nhiếp ảnh, những ký giả mà tôi đã từng cùng nhau
xuôi ngược trên những con đường bụi bậm của chiến trường trong mấy năm qua.

Hóa ra là có mưu toan đảo chánh, một trong những biến cố đã từng xảy ra trong mấy năm qua. Xế chiều hôm đó, chiếc Caravelle của hàng không Việt Nam mất lần cao độ, trong ánh nắng chiều tà miền nhiệt đới, lướt qua các cánh đồng ruộng lúa và những khúc sông quanh co của dòng Cữu Long, lung linh ánh sáng, khi chúng tôi đáp xuống Sài Gòn-Tân Sơn Nhứt, một "Paris của phương Đông".

Ngày 21 tháng Tư - Sài Gòn, Nam Việt Nam
Tôi lại quên Sài Gòn nóng đến mức nào. Mới có bảy giờ sáng thôi, mà chiếc áo của tôi đã bám dính lưng, khi tôi leo những bậc thang lên văn phòng của tạp chí TIME/LIFE, nằm trong khách sạn Continental Palace. Mùi thơm của phở mới nấu, món ăn có thể được dọn ra cho ba bửa trong ngày của người Việt Nam, làm tôi nghẹt mũi. Nó làm cho tôi sực nhớ lại rằng tôi vẫn quyến luyến địa điểm này. Tôi cảm thấy như ba năm đã qua - từ lúc tôi rời nhiệm sở ở đây tới bây giờ - đã tan
biến. Hết rồi, các ngài tổng thống..., những nàng kiều đẹp đẻ., chỉ còn lại Sài Gòn..., Sài Gòn muôn thuở.

Tôi cầm lấy chùm chìa khoá để ở chỗ dấu kín trong văn phòng rồi đi tới một gian nhà nhỏ nằm sau tòa đại sứ Hoa Kỳ. Đẩy cửa bước vào, tôi trông thấy chiếc xe con của phòng thông tấn, với bảng chữ "BAO CHI/PRESS" dán trên kính xe. Lục lọi ở góc phòng, tôi gặp lại túi ba-lô đồ nghề cũ của tôi. Tôi trút tất cả ra nền nhà, thấy có hai bộ quần áo đi rừng - còn nguyên bảng tên "Dirck Halstead, TIME/LIFE" thêu trên túi áo - một đôi giày đi rừng, kiểu phát cho binh sĩ, có đế sắt để chống chông nhọn, nhưng lại vô hiệu quả đối với mìn, một túi đựng máy ảnh - vẫn còn cuộn phim hết hạn đã từ lâu, một túi nhỏ chứa thuốc trị rét, thuốc lọc nước, một vài dụng cụ cứu thương, một chai tương ớt Tabasco và nửa chai rượu đế, vài ba cái khăn mặt còn dính đất đỏ, một áo giáp và hai bình đựng nước và cuối cùng là cái nón sắt cũ của tôi, vẫn còn những chữ "BAO CHI, UPI PHOTOS, HALSTEAD".
Tôi không còn nhớ đã lượm cái nón sắt đó ở đâu. Chắc là nhặt được trong một trận đánh nào đó khá lâu rồi, đã quên đi. Tôi lại nghĩ thầm "Thì ra, cũng có được niềm vui như khi trở về nhà!"

0900 giờ
Tôi đang ngồi nhâm nhi ly cà phê đá ở cái quán nằm trên góc đường Tự Do và theo dõi Leon Daniel, tay ký giả kỳ cựu của UPI mà cũng là người bạn cũ. Leon nói nếu tôi có muốn đi quan sát một vài vụ "bùm bùm" thì nên lấy máy ảnh theo. Tôi nhảy theo Leon, rồi xe chạy thẳng hướng Biên Hòa, chừng mấy mươi cây số trên xa lộ. Leon giải thích là từ lâu, Quân đội Việt Nam Cộng Hòa không chịu cho ký giả tháp tùng những cuộc hành quân nữa. Những phiên thuyết trình quân sự của họ không nói lên được điều gì hết, nhưng vì bị báo chí Hoa Kỳ làm áp lực mãi nên Không quân
Việt Nam đã quyết định đưa một chuyến trực thăng chở báo chí đến cứ điểm cuối cùng của lực lượng Nam Việt Nam.

Trong tháng vừa qua, những yếu điễm quan trọng của Nam Việt Nam đã tan tành gần hết. Trước tiên là Ban Mê Thuột và Pleiku ở Cao nguyên Trung phần, rồi đến Huế, làm cho gần như toàn bộ Thủy quân lục chiến Nam Việt Nam bị kẹt và bị tiêu diệt ở bãi biển, trong khi chờ đợi di tản. Rồi Đà Nẳng, trước kia là căn cứ không quân then chốt của Mỹ thời chiến tranh. Kế đó là Nha Trang. Và giờ đây, khi lực lượng Bắc Việt đang hối hả di chuyển trên quốc lộ đổ xuống phía Nam thì họ gặp
trở ngại duy nhứt là xe bồn xăng của hậu cần không theo kịp để tiếp tế. Một tiểu đoàn đã tơi tả của Sư đoàn 18 đang cố gắng hết sức mình để án ngữ cửa ngõ vào Sài Gòn. Chỉ một tiểu đoàn mà đương cự lại sức mạnh phối hợp của bộ máy quân sự Bắc Việt đang tuông tràn xuống phía Nam trên đường lộ...và đó chính là nơi mà chúng tôi muốn đến.

11:00 giờ - Tiền đồn Xuân Lộc, phía Bắc Sài Gòn
Chiếc trực thăng Chinook, hơi cũ kỹ, dấy tung một dám bụi mù màu đất đỏ, khi đáp xuống đường băng. Đâu đâu, chúng tôi cũng nhìn thấy người tỵ nạn, nhiều người phải lội bộ hàng trăm cây số để đến nơi này, hy vọng tìm được một nơi yên ổn. Những người chiến binh bị thương nằm trên cáng cứu thương kêu la, xin nước uống. Hai chiếc xe Jeep chạy nhanh đến chỗ chúng tôi, tài xế hối chúng tôi lên nhanh vì hỏa tiển đang bay trên đầu.

Trong lều chỉ huy, tướng Lê Minh Đảo, trong bộ quân phục tác chiến thẳng nếp, đang vừa nói vừa quơ gậy chỉ huy. Nghe ông nói với ai đó qua điện thoại dã chiến: "Chúng tôi sẽ giữ vững vị trí này." Khi thấy một đoàn ký giả, phóng viên hình ảnh và toán truyền hình đông đảo kéo đến, ông ra dấu hiệu bằng bàn tay nắm lại, ngón cái đưa lên. Để giải thích thêm, ông tướng nói rằng:"Tôi không cần
biết cộng sản đưa tới mấy sư đoàn. Tôi sẽ tiêu diệt hết."

Tướng Đảo mời chúng tôi bước ra khỏi lều để xem khoảng mươi tù binh Bắc Việt, bị lột trần chỉ còn đồ lót, bị trói ké như heo chờ đem đi mổ thịt. Leon Daniel nói với tướng Đảo là, theo tin tức đã được biết về sự chuyển quân của Bắc Việt thì tình hình của ông kể như tuyệt vọng. Tướng Đảo nổi giận và nhấn mạnh rằng quân của ông kiểm soát toàn bộ thị xã. Nhưng, cả Leon lẫn Peter Arnett của hãng thông tấn AP cũng không đồng ý. Tướng Đảo quả quyết tình hình vẫn tốt đẹp nên ông để
cho chúng tôi tùy tiện. Càng có thêm đạn pháo bắn vào rừng cây xung quanh chúng tôi. Một nhóm nhỏ trong chúng tôi bắt đầu thấy rằng đã đến lúc phải rút về. Nhưng, ông tướng muốn chứng minh với Leon. Ông cho xe Jeep đến ra lịnh chở chúng tôi đi xuống Xuân Lộc.

12:00 giờ - Thị xã Xuân Lộc
Nhóm nhỏ báo chí chúng tôi thận trọng di chuyển trên đường phố hoang vắng. Tướng Đảo dẫn đầu, vung vẫy chiếc gậy chỉ huy. Ông gọi to bằng tiếng Việt Nam nhưng chẳng nghe ai trả lời. Có những xác chết nằm trên đường đi. Khói như còn bốc lên từ những xác cháy đen. Thành phố thật hỗn độn. Nhưng ngoài tiếng nói của tướng Đảo, chẳng nghe được tiếng nào khác hết.

Lần hồi những chiếc nón sắt bắt đầu nổi lên từ những hố cá nhơn hai bên đường. Những chiến sĩ biệt động quân trố mắt nhìn chúng tôi, cứ tưởng như mơ. Những người khác thì chỉ nhìn một cách mông lung. Tôi bấm mấy pô hình. Nơi đây đang có khó khăn, tình hình căng thẳng. Có tiếng súng nổ ở phía đầu đường trước mặt. Một quân nhân hầu cận chạy đến ông tướng và đưa tay chỉ về phía rặng cây. Dường như có bóng người mặc đồ đen chạy qua chạy lại trong hàng cây. Hay là tôi đang ảo tưởng?

Bỗng dưng, tướng Đảo quyết định là đến lúc phải rời địa điểm. Những chiếc Jeep của chúng tôi quày đầu trở lại và chạy nhanh đến bãi đáp trực thăng, trong khi người lính đi theo liên lạc bằng vô tuyến. Hai chiếc Chinook đáp xuống tung cao đám bụi đất đỏ. Khi chúng tôi bắt đầu chạy ra trực thăng, người lính, đã đi theo chúng tôi từ thị xã, vượt qua chúng tôi rồi phóng điên cuồng ra Chinook. Hai người lính Việt Nam đang khiêng một người bị thương, bỏ an ta xuống. Tên lính
phía sau bỏ rơi người thương binh chạy đi. Leon Daniel điên tiết lên, rượt đuổi theo tên lính kia và nện cho anh ta một quả đấm. Binh lính khác cũng chạy ùa ra trực thăng đang bốc lên cao. Một vài người rớt lại vì trực thăng đã lên cao. Không đầy một phút, vậy là xong hết. Hai chiếc trực thăng đã bay xa. Anh thương binh rên rỉ. Nhiều người lính khác chỉa súng bắn theo trực thăng. Chúng tôi nhìn quanh. Cả đoàn báo chí nhỏ nhen vẫn còn ở lại trên đường. Chúng tôi bắt đầu thấy
rằng cuộc chiến có vẻ gần như chấm dứt.

15:00 - Trên vùng trời Xuân Lộc
Chiếc Chinook, mà chúng tôi nghĩ rằng chẳng bao giờ thấy nó được nữa, bay bổng lên cao, đưa chúng tôi ra khỏi Xuân Lộc. Rõ ràng là tướng Đảo cảm thấy có trách nhiệm cho sự an toàn của chúng tôi. Ông đã gọi trực thăng chỉ huy của chính ông để đưa chúng tôi đi, và dặn phải đáp xuống một nơi an toàn, không bị đám đông quấy rầy. Khi chia tay, tướng Lê Minh Đảo, cặp mắt ứa lệ, nói với chúng tôi:
"Tôi không muốn quý vị chết cùng với tôi... nếu có cơ hội trở lại đây nữa thì
quý vị nên từ chối. Mong quý vị nói cho nhân dân Mỹ biết rằng quý vị đã trông thấy sư đoàn 18 chiến đấu và chấp nhận cái chết như thế nào. Thôi quý vị hảy đi đi!"

Chương 2 : Đưa tôi đi Mỹ nha ông

Ngày 21 tháng Tư - 08:00 giờ - Sài Gòn
Đại lộ Thống Nhứt, khoảng trước tòa đại sứ Hoa Kỳ, đông nghẹt người ta, ồn ào hỗn độn. Hàng trăm người Việt Nam la ó và phe phẩy giấy tờ, tài liệu, bên ngoài cái cổng sắt đồ sộ.

Cùng với nhiều nhiếp ảnh viên khác, tôi len lỏi tìm đường xuyên qua đám đông, vừa đi vừa chụp hình. Thình lình, một chiếc xe Jeep và hai GMC quân cảnh đậu gấp lại bên ngoài đám đông. Họ dàn hàng ngang dọc theo bờ tường sứ quán. Một tay cầm khiên bằng mây đan, tay kia cầm dùi cui. Theo lịnh của một sĩ quan, họ tấn công vào đám đông. Thiên hạ nháo nhào, té chồng lên nhau, đám đông lùi ra xa tuyến rào cảng đang dàn ra ngang con đường.

Chúng tôi chui qua cổng để vào bên trong sứ quán mà bên trên có một chiếc trực thăng màu trắng của Air America đang đậu. Đại sứ Graham Martin ăn mặc chỉnh tề, áo vét cà vạt, đang đứng dưới tán lá cây me cổ thụ. Ông có vẻ lo âu về chuyện quân Bắc Việt đang lảng vảng cách thủ đô Sài Gòn không đầy 50 cây số. Những người có trách nhiệm trong báo giới ngoại quốc ở Sài Gòn có những vấn đề khẩn cấp và riêng tư. Phần lớn tổ chức báo chí nào cũng có nhơn viên là người Việt Nam làm việc cho họ đã lâu năm. Bây giờ, vấn đề là làm thế nào để đưa họ ra khỏi Việt Nam.

Tại cuộc họp báo được triệu tập khẩn cấp, đại sứ Martin cũng không chịu đề cập đến vấn đề đó. Một phóng viên đặt câu hỏi là đã có bao nhiệu nhơn viên Việt Nam của sứ quán đã rời Sài Gòn? Ông đại sứ đáp rằng:"Theo chỗ ông biết thì, trong vòng 24 giờ qua, mới có 444 nhân viên Mỹ lẫn Việt đã ra khỏi đất nước." Đối với ông đại sứ, vấn đề di tản là chuyện ông không thích bàn tới. Ông nghĩ là nếu có quá nhiều người ra đi thì dân chúng sẽ rối loạn, gây nguy hại cho chánh phủ của
tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Sau khi ông đại sứ rời cuộc họp báo, các trưởng cơ quan thông tấn giữ tùy viên báo chí của sứ quán lại và bắt đầu quy hoạch chuyện di tản của họ.

12:00 giờ
Chúng tôi lái chiếc xe con chạy lên quốc lộ 1, cách Sài Gòn khoảng 40 cây số. Chúng tôi dừng lại tại tiền đồn cuối cùng của quân chính phủ. Đối với tôi thì toàn là những cảnh đã quen mắt. Cách nay ba năm, hầu như cũng tại chỗ này, David Kennerly và tôi bị bắt buộc phải nằm mọp xuống trong một cuộc chạm súng giữ dội. Đó là lần đầu tiên tôi thấy được quân lính Bắc Việt đang hành động chớ không phải bị chết hoặc bị bắt làm tù binh. Chúng tôi bị bao vây hàng giờ. Giờ đây,
trong năm 1975 này, chiến tuyến không còn cách xa nhau nữa. Những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa ngồi gần hố cá nhơn nấu ăn trong khi đạn pháo binh của cộng sản thỉnh thoảng bay qua đầu họ. Con đường cái quan vắng lạnh, loan lỗ vì đạn pháo, chạy dài tới tận chân trời, có vài ba đám khói đen bốc lên và những tiếng tác xạ ì ầm.

Nik Wheeler, một nhiếp ảnh viên làm việc cho tuần báo Newsweek muốn đi xa hơn nữa trên con đường đó, đến khu đất giữa hai chiến tuyến. Tôi cho đó là một ý nghĩ điên rồ. Tôi đã bị ở Xuân Lộc một lần, giờ lại đến đó nữa thì không có tôi. Không có bài phóng sự về những gì xảy ra ở quốc lộ 1 vì câu chuyện to lớn sắp xảy ra và dứt khoát đó là sự sụp đổ của Sài Gòn.

Ngày 22 tháng 4Một tình hình tôi chưa bao giờ chứng kiến khi đi trên đường phố Sài Gòn. Đường
Tự Do, một con đường chánh, rất rộn rịp, lúc nào cũng ồn ào, nay lại im lặng một cách khác thường. Không còn những đứa bé đi rong trên đường kêu xin "Ông cho tôi tí tiền". Những tiệm bán hàng nghệ thuật, đầy dẫy những tranh cổ điển Việt Nam và những tranh trên vải to lớn, nói lên cái kinh hoàng của chiến tranh, vắng khách như chùa bà Đanh. Các bar, với những cô gái đi giày cao gót, chào đón khách Mỹ bằng câu mời quen thuộc "You want Saigon tea?", giờ cũng vắng tanh. Ông chà và tiệm sách, kiêm thêm nghề đổi tiền, giờ cũng hoàn toàn ngồi đếm thời gian.
Thế nhưng, có những nét mặt âu lo thập thò đàng sau những cánh cửa hé mở. Quân cảnh rượt đuổi những anh lính đào ngũ trên đường. Một đám trẻ con bám lấy tôi van xin "Đem tôi sang Mỹ đi ông!"

20:00 giờ
Thiết quân luật đã được ban hành. Bọn chúng tôi bao quanh chiếc máy thu hình ở quày rượu khách sạn Caravelle. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đang đọc một bài diễn văn quan trọng cho cả nước. Một cuộc giả từ. Mặc chiếc áo nhà binh hở cổ, ông nói những lời từ biệt đắng cay. Ông nguyền rủa tổng thống Ford, ngoại trưởng Kissinger và thượng viện Hoa Kỳ đã bỏ rơi Việt Nam. Nước mắt chảy dài xuống má, tổng thống Thiệu kết thúc bài diễn văn bằng những lời nói sau đây:

"Hôm nay tôi ra đi. Tôi xin đồng bào, quân đội và đoàn thể tôn giáo hãy tha thứ những sai lầm của tôi trong khi cầm quyền. Đất nước và tôi sẽ hết lòng tri ân. Tôi không xứng đáng. Tôi xin từ chức, nhưng tôi không đào ngũ."

Chúng tôi nhìn nhau, không tin là có thể như thế được. Hầu như ông tổng thống đơn thương độc mã hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự hỗn loạn của Sài Gòn hiện nay. Quyết định rút quân từ phía Bắc của ông ta để tăng cường Sài Gòn là nguyên nhân làm cho sức mạnh của Việt Nam phải bị tan rã.

23:00 giờ
Đường phố Sài Gòn hoang vắng, ngoại trừ vài ba xe Jeep quân cảnh thỉnh thoảng chạy tuần tra và một vài ông cảnh sát lẳng lặng đạp xe đi "rông". Tất cả các Bar đều im lặng. Giờ giới nghiêm đã điểm. Nhiều xe buýt đen, không đốt đèn hiệu lướt êm như những bóng ma trên đường rồi dừng lại trước khách sạn Palace.

Trong âm thầm, một người Mỹ vận thường phục đưa một nhóm người vừa Tây phương vừa Việt Nam, ra đường, dừng lại trước xe buýt. Một đứa bé oà lên khóc, mẹ nó lấy tay bụm miệng nó lại. Đoàn người đó lẳng lặng chui vào xe buýt đang đậu chờ, cũng như những đoàn người tương tự đang làm như vậy, cùng lúc đó ở nhiều nơi khác trong thành phố.. Cũng im lặng như khi đến, những chuyến buýt lướt đi âm thầm trong bóng đêm.

Sáng ra, trên đường đi làm, người Việt Nam sẽ để ý thấy có nhiều tiệm đóng cửa. Bạn bè đến thăm những gia đình sẽ thấy cửa nhà đã khóa chặt. Vài ba cái bao và những cái thùng không được chất đống trên dĩa hè. Cuộc di tản đã bắt đầu.

Chương 3 : Chỉ có trời mới biết chuyện gì sẽ xảy ra

Thứ Tư, 23 tháng Tư Khu DAO, Căn cứ KQ Tân Sơn Nhứt -10:00 giờ
Một cảnh hỗn độn khác thường tại một địa điểm giải trí của Mỹ, nhà chơi Bowling. Một thằng bé đang tắm trong một thùng nước. Người Việt Nam nằm la liệt, có kẻ ngủ trên những lằn ném banh gỗ. Rác rến, phân người dưới đường mương. Tôi thấy một công nhân xây dựng Mỹ, đầu đội chiếc nón Cowboy, điền giấy tờ cho cô bạn Việt Nam đang bám lấy tay ông, mặt mày lo âu. Cô có dáng vẻ của một gái bán Bar, chiếc váy cũn cỡn bên trên đôi giày ống. Một viên chức sứ quán giải thích rằng chỉ cần gã đàn ông ký giấy cam kết sẽ hỗ trợ cô bên Hoa Kỳ là cô có thể rời Việt Nam. Viên chức đó thừa biết rằng cô gái này đâu phải là người duy nhứt ra đi theo kiểu đó. Nhiều hãng thầu Mỹ đã làm giấy bảo lãnh cho những cô gái của cả một cái Bar đi Mỹ nữa kìa. Chỉ có trời mà biết chuyện gì sẽ xảy đến cho những cô gái này ở bên Mỹ. Tôi nghĩ bụng rồi đây Mỹ không những sẽ tiếp tay cho nghề mãi dâm trên đất nước Hoa Kỳ mà chính phủ còn phải trả phụ cấp cho bọn ma cô.

Bên ngoài nhà chơi Bowling, hàng ngàn người Mỹ và Việt Nam đứng chụm nhum, bàn bàn, tán tán. Những người may mắn thì tìm được bóng mát dưới tàn cây, gia tài của cải nằm dưới chưn. Có người ăn mặc bảnh bao. Có người có vẻ giàu có, với những chiếc va li nặng kỳ lạ, chắc là đầy vàng khối trong đó, sau khi đem tiền đổi lấy quý kim của Ba Tàu Chợ Lớn.

Đằng cuối khu, binh sĩ không quân tập hợp từng nhóm trăm người, khi đã đủ số, đưa lên xe buýt chạy ra phi cơ. Trên không lúc nào cũng nghe tiếng động cơ phản lực thường xuyên cất cánh đi Guam, Manila và San Francisco, hoặc đáp xuống.

14:00 giờ - Quốc lộ 1 - 40 cây số phía Bắc Sài Gòn
Tôi đang chụp hình quân lính Việt Nam quảy gà trên vai, theo sau là những nông dân đầu đội nón lá, la lối khiếu nại. Đạn pháo thường xuyên rót vào, rơi nổ inh tai nhức óc, cách chỗ chúng tôi chừng cây số.

Thình lình, một đoàn thiết vận xa tháo chạy gần đó, đụng toán lính bắt gà của dân đang đi trên đường, nhưng cũng không chịu chạy chậm hay ngừng lại. Nik Wheeler la lên: "Chết rồi, lại rút lui. Sư đoàn 18 bỏ chạy rồi!"

Thứ Năm, 24 tháng Tư - Sài Gòn - 08:30 giờ
Con đường chánh của Sài Gòn trông vẫn giống như cách nay 10 năm, khi Hoa Kỳ đã có mặt tại Việt Nam. Một vài cái Bar đã mở cửa, và mấy cô nàng xinh đẹp, váy ngắn đã đứng trước cửa vẫy tay mời gọi. Ở những gánh phở bên đường, người Việt Nam ngồi chồm hổm, thưởng thức tô phở buổi sáng.

Điều thay đổi duy nhứt, dễ thấy đối với con mắt đã quen, là bỗng nhiên đường phố Sài Gòn có quá nhiều lính tráng Việt Nam. Lang thang một cách vô tích sự, hoặc đi từng đám đông đòi hỏi được giúp đỡ, chớ không phải xin của bố thí. Một trận cãi vã ầm ĩ khi một nhóm quân nhân ăn uống mà không trả tiền tại một quán ăn đường phố. Một xe quân cảnh đỗ xoẹt lại và lính QC túa ra. Súng bắn chỉ thiên, thế là dân thường và nhà binh chạy tránh đạn, giẫm phải một thương binh cụt hai
chưn, ngồi xe lăn xin ăn ở gốc đường.

Xa hơn nữa đằng cuối đường, một chiếc xe tải nhỏ hiệu Ford lặng lẽ đến đậu trước tòa nhà cao ở bờ sông. Một thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, ăn mặc đồ trận xuống xe, theo sau có nhiều đàn bà Việt Nam, với thùng sơn và cọ. Họ nhanh chóng chui vào tòa nhà, lấy thang máy lên trên nóc để làm việc. Một giờ sau, họ hoàn tất công tác, trở xuống xe và tiếp tục đi đến địa điểm kế tiếp. Bên trên tòa nhà họ vừa rời đi có một số 2 màu vàng, mới sơn.

Cercle Sportif Sài Gòn - 12:30 giờ
Thời gian trôi qua êm ả ở Cercle Sportif, một câu lạc bộ thể thao do người Pháp thành lập để họ vui chơi dưới thời thực dân. Cái câu lạc bộ sang trọng đó - nằm ngay sau dinh tổng thống - đã nhắm mắt dửng dưng với cuộc chiến từ ngày thành lập đến nay.

Mỹ và Việt Nam trám đầy những sân quần vợt, dẫu cho giữa trưa đứng bóng, trong khi bên hồ bơi những người hầu bàn bưng ra những ly cối chanh vắt mát rượi cho những người Mỹ, người Pháp và những người phụ nữ hai dòng máu đang tắm nắng.

Michel Laurent, một nhiếp ảnh viên tự do người Pháp, quần bò, áo bốn túi, băn khoăn muốn đi làm phóng sự bên ngoài Sài Gòn. Anh ta cho rằng cứ ngồi ở hồ bơi như vầy mất hết thời giờ. Nik Wheeler nhắc lại anh ta về những gì đã thấy ở quốc lộ hôm trước. Nay, sư đoàn 18 đã tan hàng thì làm gì còn có chỗ đi ra ngoài Sài Gòn?

Chúng tôi thảo luận với anh ta rằng dẫu cho mình có qua được bên kia nút chặn
thì nếu có lệnh di tản rồi làm sao đây? Rồi anh ta lại cứ quanh quẩn với những
chuyện rừng núi trong khi câu chuyện đích thực đang xảy ra ở Sài Gòn. Michel không chấp thuận luận điểm của chúng tôi và anh ta bỏ đi, điếu xì gà ngậm chặt giữa hai hàm răng. Còn chúng tôi thì kêu thêm hai ly chanh vắt nữa.

Văn phòng của NBC, Sài Gòn - 17:30 giờ
Văn phòng của NBC, nhìn xuống đại lộ Nguyễn Huệ, là một tổ ong rộn rịp sinh hoạt. Ngoài phóng viên, toán thu hình và nhơn viên viết bài ra, còn có hàng chục người Việt Nam kiên nhẫn xếp hàng đứng dọc theo tường.

Ngồi trong phòng, Henry Griggs - một phóng viên chiến trường của NBC từ New York sang thế tạm chức vụ trưởng cơ quan thông tấn - thở ra khi có thêm một người Việt Nam nữa bước vào. Một bà người Việt, ăn mặc vén khéo, tóc tai bù xù, nước mắt hai hàng, yêu cầu Henry giúp đỡ cho gia đình bà ra khỏi Sài Gòn. Bà cho biết là em họ bà - người đã hy sinh tại mặt trận trong cuộc tấn công vào Cam Bốt - đã có lúc làm văn thơ cho NBC, phụ trách việc đem phim ra phi trường. Anh ta lúc
nào cũng đề cao NBC, và bây giờ chắc là hãng thông tấn sẽ đưa gia đình bà ra khỏi nước.

Griggs biết rằng cảnh tượng đó ở cơ quan thông tấn nào của Mỹ ở Sài Gòn cũng có. Ông bắt đầu giải thích rằng ông chỉ có thể đưa nhơn viên của NBC và gia đình đi trước đã. Đêm hôm trước, Griggs đã thức gần tới sáng cùng với một nhóm trưởng cơ quan thông tấn để lên kế hoạch di tản. Dường như chẳng đi tới đâu cả. Cũng nhóm đó thậm chí đã thuê một chuyến phi cơ phản lực để đưa nhơn viên Việt Nam của họ đi mấy đêm trước đó, nhưng phi cơ đã không được phép đáp xuống Tân Sơn Nhứt. Hôm tuần rồi, Griggs đã đi Hong Kong gọi điện cho David Kennerly, nhiếp ảnh viên của Bạch Cung, yêu cầu ông này trình với tổng thống xem có cách nào không. Ông
Kennerly đã đích thân tìm hiểu trường hợp Nam Việt Nam bị sụp đổ, có hứa sẽ làm
mọi cách trong khả năng mình, nhưng từ đó đến nay , chẳng có gì hết!

Griggs nhìn ra cửa sổ, thấy ở rạp chiếu bóng REX, bên kia đường quần chúng Việt Nam đang mua vé để xem phim mới của Brigitte Bardot, "Boulevard du Rhum". Ông ngó lên nóc của rạp Rex, nay hoang vắng, và nhớ lại thời vàng son của nó, lúc nó còn là nhà hàng sang trọng của câu lạc bộ sĩ quan Hoa Kỳ. Ông ta đã trải qua một thời gian thoải mái ở đó, kết thân với lắm bạn bè, hồi thời 1966. Lúc bấy giờ mọi việc đều đơn giản!

Chương 4 : Xin ông làm ơn đưa tôi đi

Ngày 25 tháng Tư - Sứ Quán Anh, Sài Gòn 08:00 giờKhói đen bay lên cuồn cuộn ở phía tòa đại sứ Anh, người ta thiêu hủy tài liệu. Cổng tòa đại sứ mở toang, ông đại sứ John Christopher Wydows Bushell, trong bộ đồ bốn túi thẳng nếp, đi chiếc Jaguar màu bạc, chạy ngang qua đám nhơn viên sứ
quán đang la lối om sòm, hướng về Tân Sơn Nhứt để di tản.Nik Wheeler nói rằng như vậy còn ít tàn nhẫn hơn bọn Canada. Chúng nó biểu nhơn viên ngày hôm sau trở lại để được đưa đi, nhưng khi trở lại thì thấy mọi người đã chuồn mất đêm trước rồi!

Saigon - Một khu công giáo ngoại ô, gần Tân Sơn Nhứt 14:00 giờ
Một đoàn người lũ lượt kéo đi - gần như một cuộc biểu tình - trên con đường đầy cát bụi và nóng bức. Đủ thứ bích chương, biểu ngữ, mang những khẩu hiệu như "Chiến đấu tới cùng... Việt Nam Cộng Hòa muôn năm". Thỉnh thoảng có một biểu ngữ khác hơn, màu xanh và vàng với hàng chữ "Hòa bình và thương thuyết - Đừng đổ máu". Những bích chương, biểu ngữ viết tiếng Việt hàng trên, nhưng cũng có tiếng Anh ở hàng dưới dành cho những toán truyền hình Mỹ.

Đoàn biểu tình kéo tới một khán đài, đặt trước một nhà thờ. Với tiếng hoan hô vang dội, đám đông đưa người hùng của họ lên diễn đàn. Ông tướng không quân Việt Nam đó - cựu chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương và cựu tổng thống Việt Nam - không ai khác hơn là Nguyễn Cao Kỳ. Với cái khăn quàng cổ quen thuộc, với bộ đồ bay áo liền quần truyền thống và không thiếu khẩu súng lục bên hông, ông ta lên tiếng trước đám đông.

Tướng Kỳ hô hào dân chúng chống trả lại đà tiến của quân cộng sản. Ông cho rằng bọn cộng sản là "một lũ chuột và sẽ không khi nào vào Sài Gòn được". Ông ta cam kết tiếp tục chiến đấu, với một khẩu khí hiếm thấy: "Cứ để cho bọn hèn nhát chạy theo Mỹ, còn những ai yêu Việt Nam thì hãy ở lại để chiến đấu."

Một nhà báo Việt Nam quay sang chúng tôi và càu nhàu: "Ông ta điên rồi!" Chúng tôi rời đám đông, tiếng nói của ông Kỳ, qua loa phát âm, cứ theo đuổi chúng tôi ra đường cái. Chúng tôi đang chờ Taxi thì có tiếng còi hụ vang lên giữa tiếng ồn ào của xe cộ lưu thông. Một chiếc Jeep quân cảnh, bên trên có đặt súng máy, vượt qua toán xe cộ, mở đường cho một chiếc Mercedes màu đen, theo sau là một chiếc xe Ford chở đầy mật vụ. Đoàn xe vụt qua rồi mất dạng ở cuối đường. Tôi thắc mắc
thì người phóng viên Việt Nam mĩm cười và đáp:"Ông Thiệu chớ ai. Ông ấy đang từ giả Việt Nam."

Sài Gòn, văn phòng TIME/LIFE - 17:00 giờ
Roy Rowan, xử lý thường vụ trưởng cơ quan của TIME, đang họp văn phòng. Tôi nhìn quanh căn phòng. Đã có lịnh mới của New York cũng như của sứ quán Hoa Kỳ cho chúng tôi. TIME quyết định hạn chế việc đưa thêm người đến Sài Gòn. Họ cũng muốn chúng tôi giảm nhơn số càng nhanh càng tốt. Những lịnh từ New York đã rõ ràng là đưa nhơn viên Việt Nam đi, rồi rút bớt nhơn số còn lại. Chỉ còn phần nhơn viên cốt lõi ở lại đến lúc cuối cùng.

Tòa đại sứ cho các trưởng cơ quan thông tấn biết rằng trong trường hợp di tản Sài Gòn, đài phát thanh quân đội Hoa Kỳ sẽ phát bản thông cáo khí tượng đặc biệt, như sau: "Nhiệt độ lên đến 105 (độ F) và đang tăng lần!" Khi nghe tín hiệu đó, tất cả các nhơn viên làm tin tức người Tây phương phải đến tập trung ở địa điểm di tản, đã được quy định, trong thành phố. Chúng tôi được biết công tác di tản sẽ quyết liệt nhứt khi đài phát thanh bắt đầu phát đi điệu nhạc "White Christmas" do Bing Crosby trình bày.
[...]
Ngày 26 tháng Tư - Sài Gòn, Khách sạn Continental

Một nhóm nhỏ nhà báo Mỹ ngồi quanh một cái bàn ở trên sân bên trong khách sạn Continental. Cái khách sạn cũ kỹ này ăn nên làm ra nhờ những quân đội chiếm đóng. Ban đầu là Pháp, kế đến là Mỹ. Trong khi chẳng có khách sạn mới nào cất thêm gần đó, một số khác sau này bị khủng bố phá hoại, Continental tìm cách để thoát khỏi mọi thứ đó, phần lớn nhờ biết nộp nhiều "thuế" cho cộng sản. Người ta còn có cảm tưởng là một vài nhà báo làm việc trong khách sạn, thực ra là người
của cộng sản. Kết quả là khách sạn này được báo chí ngoại quốc chiếu cố, vì một phần nào đó họ có được cái cảm tưởng là còn hưởng được cái thích thú của thời thực dân Tây, đã qua rồi từ lâu, ngày nay chỉ còn lại cái hào nhoáng vật chất mà thôi.

Mấy cậu bé đường phố liếc mắt canh chừng những anh dọn bàn để lẽn vào bên trong nhà hàng, xin đánh giày, bán báo khiêu dâm, thậm chí "bán" chị của chúng và, xa hơn nữa, bán anh hay em trai của tụi nó và tệ hại hơn nữa bán thân của chính chúng nó cho những ai thích làm tình kiểu kỳ quái!

Thế nhưng, sáng hôm nay chẳng có nhà báo nào để ý đến những cái trò quái quỷ thường ngày đó nữa. Họ chỉ bàn tán đến số phận của Michel Laurent vừa bị hy sinh trong khi đang hành nghề tại hiện trường. Michel đang làm nhiệm vụ với một toán thu hình thì bị VC pháo kích ở quốc lộ 1. Chuyên viên thu hình may mắn thoát khỏi, nhưng giây phút cuối cùng anh ta còn trông thấy được Michel là khi hắn ta bỏ anh ấy mà chạy thẳng vào phía hỏa lực đối phương.

Có thể Michel đã bị thương. Michel là con người kỳ cựu của chiến tranh Việt Nam, đã từng theo dõi cuộc chiến này trong vòng năm năm qua. Cộng thêm hai năm phóng viên chiến trường ở Phi Châu, với quân đội Pháp, chưa kể thời kỳ ở Bangladesh. Dẫu sao đi nữa thì Michel cũng là người Pháp...nhưng tuy vậy họ vẫn biết rằng khi một người bạn đã tuyệt tích giang hồ thì chẳng còn khi nào trở lại nữa! Và chúng tôi bắt đầu nghĩ đến thân phận của chính mình.

Quày rượu trên sân thượng khách sạn Majestic -23:00 giờ Bọn chúng tôi, người nào cũng già ba mươi năm kinh nghiệm chiến trường Việt Nam, đang kết thúc bữa ăn tối bằng rượu mạnh để giúp đỡ tiêu hóa và xì gà Cuba. Nhóm này gồm có Roy Rowan của tạp chí TIME, người đã từng chứng kiến sự sụp đổ của Quốc dân đảng Trung Hoa vào tay Trung cộng ở Thượng Hải. Vì vậy nên tòa soạn báo
TIME ở New York tặng cho anh ta bí danh là "người đóng cửa đất nước". Còn có Catherine Leroy, một cô đầm nhỏ thó nhưng năng nổ hăng say, đã làm bài phóng sự độc đáo cho tạp chí Life, nhờ chị đã đi thực tế trong hàng ngũ Việt Cộng khi cộng sản bao vây Huế hồi Tết Mậu Thân. Ngoài ra, còn có Dave Greenway của Los Angeles Time, Mark Godfrey, Nik Wheeler và tôi.

Trải qua một lúc lâu thoải mái, trong bầu không khí ẩm ướt của đêm Sài Gòn và với hương thơm thoang thoảng của phương Đông, dường như trong một giây phút ngắn ngủi chiến tranh đã đi đâu mất. Thức ăn ngon, rượu vang tuyệt vời và độ nồng ấm của rượu mạnh sau bữa ăn loan tỏa qua đầu và qua người, những chuyện của Sài Gòn, trong phút chốc, đã biền biệt đi xa.

Khi những người hầu bàn bắt đầu thu dọn, vì đã quá khuya, thì câu chuyện của chúng tôi trở lại với thực tại. Rồi chúng mình sẽ làm gì đây? Không một ai trong bọn tôi cho rằng nguy cơ sẽ do quân lính Bắc Việt mà ra. Thế nhưng, tình hình phân hóa, không ai chỉ huy của quân đội và cảnh sát Việt Nam làm chúng tôi lo ngại nhiều hơn. Quân đội và cảnh sát lâm thời sẽ điên loạn lên khi Mỹ ra đi và
cộng sản tái lập được trật tự.. Chúng tôi đã thảo luận về vấn đề đó không biết bao nhiêu lần rồi, nhưng tiếc thay chưa có câu giải đáp.

Nik Wheeler và tôi rời bàn ăn, đứng lên nhìn xuống sông, từ lầu tư của cái khách sạn xưa cũ nằm trên bờ sông. Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh đang nằm yên trong bóng đêm. Tôi nhớ lại có một đêm tôi suýt chết khi trái mìn định hướng nổ bên cạnh, và tôi đang chụp cảnh trí đó. Một người bạn bị thương kêu cứu nên tôi vừa quỳ gối xuống xem anh ta thì những mảnh vỡ của quả mìn bay trên đầu tôi.

Giờ thì nhiều bạn bè đã nằm xuống nơi chiến trường này. Henri Huet, chuyên viên nhiếp ảnh, cùng làm việc với tôi ở UPI Sài Gòn, Dana Stone và Sean Flynn, những phóng viên mạo hiểm, mãi mê đuổi theo niềm hứng khởi của mình, nên đã lọt vào tay tiểu đội hành quyết Cam Bốt, Larry Burrows, người nghệ sĩ dễ thương của tạp chí Life, Kyoichi Sawada, người đã chiếm giải Pulitzer đầu tiên khi làm việc cùng cơ quan thông tấn UPI với tôi và nay đến lượt Michel!

Trên đường đi xuống cầu thang, chúng tôi qua ngang một gian phòng rộng lớn đả được chính phủ mới của Dương Văn Minh sắp đặt để mở hòa đàm. Một chiếc bàn tròn to lớn nằm ở giữa phòng. Trên bàn là một huy hiệu của Kinh Dịch, có hai chim bồ câu bao quanh. Đó là huy hiệu mới của chính phủ hòa hợp hòa giải. Chúng tôi mĩm cười khi nhìn thấy anh bảo vệ nằm ngủ trên mặt bàn. Tôi bước đi vào đêm tối im lìm.

Chương 5 : Ai làm ăn lương thiện có thể ở lại

Ngày 27 tháng Tư - Sài Gòn, khách sạn Palace -01:00 giờ
Tôi chưa giải nghể được sau cuộc chè chén đêm qua. Tôi lấy một chai bia 33 trong tủ lạnh nhỏ đặt trong phòng. Tôi vẫn còn nửa điếu xì gà "Romeo & Juliet" của bữa ăn hôm qua ở Majestic. Tôi ngồi trên giường để ghi những lời chú thích cho cuộn phim mà ngày mai tôi phải gởi đi New York. Tôi bước lại tủ lạnh, lôi một chai Cognac nhỏ và thêm vào tí Soda. Tôi tắt máy điều hòa không khí, rồi mở cửa sổ
ra. Vì lịnh giới nghiêm nên đường phố như vắng tiếng xe cộ. Tôi nhớ ra rằng chưa bao giờ gặp một tình hình như vậy của Sài Gòn. Chắc giống cảnh Sài Gòn trong những năm hai mươi, trước thời kỳ của xích lô, của xe Lam và của những chiếc Taxi hai màu vàng và xanh lơ chạy khắp phố phường.

Tôi nhìn ra những con đường rộng lớn của thành phố. Gần như hoang vắng. Khi người Pháp vẻ bản đồ Sài Gòn, họ hình dung những con đường rộng rãi và có trồng cây hai bên. Quả thật như là Paris của phương Đông. Tôi đem máy ảnh ra lau chùi. Bụi đất đỏ len lỏi vào nhiều bộ phận của máy ảnh. Tôi kéo vạt áo thun để lau bộ phận ngắm. Tôi thật tình muốn làm thêm một phóng sự nữa ở quốc lộ 13. Có lẽ vào buổi sáng.

David Kennerly đến đón tôi tại khúc quanh bằng xe của khách sạn Caravelle. Chúng tôi định thực hiện một "chuyến đi an toàn" ra tiền tuyến. Leon Daniel ngồi băng sau. Dọc theo quốc lộ 13, khoảng 30 cây số về phía Bắc của Sài Gòn là chúng tôi bắt đầu vào vùng phi quân sự. Chúng tôi choàng áo giáp lên vai và núp xuống bên trong xe. Người tài xế nhấn hết ga và chúng tôi lao đi nhanh như tên lửa trong khi hỏa tiễn Bắc Việt bay veo veo trên đầu.

Chúng tôi bắt kịp một đại đội Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đang di chuyển lên hướng Bắc. Chúng tôi chụp hình quân lính và chiến xa của họ đang tiến trên quốc lộ, rồi dừng lại ăn trưa. Đang gặm miếng ăn cầm tay (Sandwich) thì đám mây đen nghịt bắt đầu kéo đến. Mưa bắt đầu rơi nặng hột thì một tràng AK-47 nổ trên không, ngay trên đầu tôi. Tôi cảm thấy không khí rung động. Đột nhiên, hàng cây cháy bùng lên. Chiếc xe của khách sạn xoay tròn và tan ra nhiều mảnh vụn trên
quốc lộ, bỏ chúng tôi lại bơ vơ. Đạn pháo cỡ lớn, loại 105 ly, bắt đầu rơi quanh chúng tôi. Một chiếc thiết vận xa, cửa sau còn mở, chạy thoáng qua. Tôi chạy theo thật nhanh, dưới cơn mưa, nhảy gọn lên, xong khép cửa lại.

Trong góc xe, một bóng người ngả xuống, khói bốc lên từ thân xác. Tôi nhìn xem, thì dường như là một chuyên viên nhiếp ảnh. Máy ảnh loại Nikon F của anh nằm xoài trên sàn xe, chiếc máy tan tành. Tôi thử nhặt chiếc máy lên, nhưng nóng quá. Tôi đành bỏ xuống. Bên ngoài chiếc thiết vận xa, tôi có thể nghe tiếng đạn pháo đang tìm mục tiêu. Màng nhĩ của tôi nổ lung tung. Một quả tạc đạn lân tinh nổ bùng bên trong thiết vận xa. Tiếng nổ thật chát chúa. Chất lân tinh bốc lên không rồi rơi xuống như những cánh tuyết, chỉ khác là rơi xuống chỗ nào là cháy chỗ đó. Tôi thấy lớp da của tôi bốc cháy, nhưng kỳ lạ vô cùng, là tôi chẳng thấy đau đớn gì hết. Đạn pháo và hỏa tiễn đang tập trung vào tôi. Và đang lần hồi tới gần...

Khách sạn Palace - 04:00 giờ
Tôi thức giấc, chiếc áo thun đẫm ướt mồ hôi. Thì ra, cái máy điều hòa không khí đã ngừng từ lâu. Thình lình, có một sự rung động như là hỏa tiễn rơi ngay bên ngoài cửa sổ. Mảnh vụn văng tứ tung. Có tiếng còi hụ. Tôi chạy ra khỏi phòng và chạy xuống cầu thang, ra đường. Vụ nổ làm bừng sáng cả một góc trời. Có lửa cháy trên nóc khách sạn Majestic, chỉ cách chỗ tôi một khu nhà. Tôi len lỏi đi qua đám đông đang hoảng sợ. Từ lầu hai, Nik Wheeler gọi xuống, tôi chạy trở lên. Phía sau Nik là phòng họp đã chuẩn bị đang bốc khói. Qua khói mù và những mảnh vụn, chúng tôi khó khăn lắm mới nhận thấy một xác người. Thì ra đó là anh chàng bảo vệ nằm ngủ trên bàn họp đêm qua.

Chợ Bến Thành - 07:30 giờ
Ngôi thánh đường đổ nát, chỉ còn lại cây thánh giá đứng trơ vơ. Một vùng, bề dài
bằng hai khu nhà, ngang bằng một, đã bị trận pháo kích đêm qua tàn phá. Nhơn
viên cứu cấp lôi ra một xác người từ đóng tro tàn còn bốc khói. Những người phụ
nữ lang thang trong đống gạch vụn, thúc thích trong khăn tay. Thỉnh thoảng có
người tìm thấy một xác chết trẻ con và oà lên khóc. Đang chụp hình, tôi bỗng
nhiên nhận thấy một cô phóng viên truyền hình xinh đẹp, áo bông, váy ngắn và
giày ống, mà tôi chưa gặp bao giờ. Cô có vẻ lúng túng trong khi đang làm việc.

Đó là Hillary Brown của hãng thông tấn ABC, mới vừa đến Việt Nam. Cô đã từng
theo dõi các trận đánh bom ở Bắc Ái Nhĩ Lan. Như vậy, cô không xa lạ gì với cảnh
tượng ở Việt Nam. Sửa lại dáng đứng, cô có lời phê để ghi vào thiên phóng sự:
"Kể từ 1968, đây là lần đầu tiên hỏa tiễn cộng sản rơi xuống Sài Gòn. Người dân
thủ đô không tưởng tượng được là lực lượng địch ở ngay bên ngoài đường biên
thành phố. Họ thấy rằng đây có thể là màn cuối cùng của cuộc chiến này."

Khu cộng sản Bắc Việt trong Tân Sơn Nhứt - 12:00 giờ
Mặc dầu Sài Gòn vừa bị pháo kích, và lực lượng chiến đấu đang lảng vảng ở ngoại
ô thành phố, đoàn quan sát ngừng bắn của cộng sản Hà Nội cứ mở họp báo ngày chủ
nhựt như thường lệ. Đúng theo tinh thần Hòa đàm Paris, phi trường Tân Sơn Nhứt
được cộng sản dùng làm nơi họp báo của họ.

Nằm vào một góc của căn cứ không quân Mỹ trước kia, khu cộng sản Bắc Việt được
những cây cọ dừa cung cấp bóng mát. Những người lính Bắc Việt, đầu đội nón cối,
vai mang AK đi tuần rảo quanh doanh trại hoặc đứng im một cách lạnh lùng. Một
nhóm ký giả Mỹ và chuyên viên thu hình đứng đầy căn lều bằng tôn mái tròn, chờ
dự họp báo.

Cuối phòng, một cây cờ Việt Cộng to tướng, nửa đỏ, nửa xanh lơ, ở giữa là một
ngôi sao vàng, được treo trên tường. Ngồi ở cái bàn trải thảm màu xanh lá cây,
đặt ngay bên dưới cây cờ, ông đại tá Ba, phát ngôn viên của họ trả lời các ký
giả. Trong khi đó vài ba người lính cộng sản mời nước ngọt cho những nhà báo
đang nóng nực vì lều chật lại đông người, vì ánh đèn quay phim làm tăng cao độ
nhiệt.

Hillary Brown hỏi đại tá Ba: "Giờ thì có hy vọng gì đi đến một giải pháp qua
thương thuyết với chính phủ Sài Gòn không? Cộng sản có chấp nhận tổng thống
Hương như là thành phần của chính phủ hòa hợp hòa giải, khi tổng thống Thiệu đã
ra đi không?" Đại tá Ba nghiêm trọng lắc đầu và đáp: "Ông Hương hay ông Thiệu
thì cũng thế thôi."

Thắc mắc chánh của báo chí ngoại quốc, được hỏi đi hỏi lại nhiều lần là nếu họ ở
lại khi Bắc Việt chiếm thành phố thì số phận của họ sẽ như thế nào? Họ có được
an toàn không? Tất cả bọn chúng tôi nghĩ đến thân phận của mình trong những ngày
sắp tới. Mĩm cười, đại tá Ba trả lời:"Người nào làm ăn lương thiện sẽ được đối
đãi tử tế."

Sài Gòn - Trụ sở Thượng viện -15:00 giờ
Một toán quân danh dự dàn chào - quân phục trắng thẳng nếp, nón sắt bóng láng
phản chiếu ánh nắng mặt trời - đứng nghiêm trước tòa nhà thượng viện, trang trí
cờ xí, nằm trên con đường dọc theo sông Sài Gòn. Các toán truyền hình chạy lăng
xăng tìm cách thu hình các phái đoàn. Có Nguyễn Cao Kỳ với bà vợ xinh đẹp và
mảnh mai. Ông "Minh Cồ", đã có một lúc làm Chủ tịch hội đồng quân nhân cách mạng
cũng đến dự. Cuối cùng, kèn trống inh ỏi, một chiếc xe Mercedes đen trờ tới, có
toán an ninh với M-16 hộ tống. Tổng thống Trần Văn Hương, vừa nhậm chức hai mươi
bốn giờ qua, đứng trước toán quốc kỳ làm lễ chào cờ. Quốc thiều trổi lên. Chậm
rãi, ông xoay người qua, và từng bước một, ông leo mấy nấc thang của quốc hội để
từ chức tổng thống. Và nhiệm kỳ ngắn ngủi của ông đã xong rồi.

Chương 6 : Tôi nghĩ ai ai cũng điên khùng

Ngày 28 tháng Tư - Cầu Tân Cảng, Sài Gòn - 10:00 giờ
Trực thăng võ trang bay ngang dọc trên đầu người, tiếng bay của hỏa tiễn đua
nhau xé không gian. Quân sĩ Việt Nam nằm sát hai bên lề đường trên cầu, nổ súng
khơi khơi nhắm vào bờ bên kia sông. Nhiều cột khói khổng lồ bốc lên từ những nhà
kho của Tân Cảng và từ các thùng chứa xăng nằm trên cửa sông vào Sài Gòn. Tại
con xa lộ bốn đường xe chạy này, cách xa trung tâm thành phố không đầy năm cây
số, chính phủ Việt Nam đang sống mái với kẻ thù trong một trận đánh cuối cùng.

Tôi nằm úp mặt một bên cầu, trong khi Hillary Brown, tay cầm một máy ghi âm lăn
ngang qua cầu đến chỗ tôi. Chúng tôi cùng nhìn xuống mép cầu. Bên dưới chúng
tôi, ngay trước mặt, có những bóng người chạy ngang qua những ngôi nhà đang
cháy. Những chiếc trực thăng võ trang bay rất thấp, phóng hỏa tiễn và nhả đạn
vào những bóng người đó. Quân Bắc Việt đã đến trước cổng thành phố.

Nhiều chiếc xe tải, bóp còi inh ỏi, xuất phát từ Tân Cảng, chạy hết tốc lực, chở
đầy những thùng đạn. Xe tải chưa qua khỏi chúng tôi thì một tiếng nổ kinh thiên
động địa đẩy mạnh chúng tôi vào thành cầu và một chiếc xe bốc cháy, như một quả
cầu lửa đỏ khổng lồ. Chiếc xe chẳng còn gì. La ó vì sợ hải, những người lính
Việt Nam Cộng Hòa quăng súng chạy nhanh xuống cầu, hướng về phía thành phố.

Cửa hàng mậu dịch của Mỹ, Sài Gòn - 11:30 giờ
Những người Việt Nam đập phá cửa nẻo của cửa hàng mậu dịch to lớn nhứt của Hoa
Kỳ ở Sài Gòn. Trong khi tiếng còi báo động kêu ầm ĩ, họ cứ đẩy những xe chất đầy
đường, gạo, thuốc men, thịt cấp đông,... Cảnh sát đứng nhìn một cách thích thú,
chẳng nói, chẳng rằng. Thỉnh thoảng còn chốp lấy một món hàng nào đó trên xe
thực phẩm đẩy ngang qua trước mặt, như là một cung cách thu thuế.

Dinh tổng thống, Sài Gòn - 15:30 giờ
Phòng khánh tiết rộng lớn, màn treo phướng rủ của Dinh Độc Lập chứa đầy quan
chức chính phủ, dân biểu quốc hội, viên chức tòa đại sứ Hoa Kỳ và phóng viên ký
giả. Gian phòng nóng bức dưới những ánh đèn thu hình. Thỉnh thoảng, một cơn gió
ẩm ướt lay động những bức màn của mấy cái cửa rộng lớn, và mây đen kéo đến, hứa
hẹn một cơn mưa to.

Cụ già bảy mươi mốt tuổi đời Trần Văn Hương, vị tổng thống cuối cùng của Việt
Nam Cộng Hòa, lụm cụm bước lên bục. Nước mắt lưng tròng, ông đọc bài diễn văn
cuối cùng. Ông dứt lời, một quân nhân, trong bộ đồng phục trắng thẳng nếp, sắp
xếp lại quốc kỳ vàng ba sọc đỏ. Một quân nhân khác tháo gở quốc huy tổng thống
cũ xuống. Gian phòng bỗng nhiên im ắng lạ thường, như bị một xúc động cao độ làm
tê liệt. Toàn bộ những người tham dự như bị đông đặc trong một khung cảnh lịch
sử!

Bỗng dưng, như một phát súng lịnh, một tiếng gầm vang dội tràn ngập gian phòng.
Màn trướng tung bay theo gió, mưa nặng hột đổ xuống, đi kèm là sấm sét. Như
chừng trời đất cũng muốn bày tỏ nỗi niềm tức giận cho một hiện tượng chánh trị
có một không hai.

Giữa cơn sấm sét ầm ì, tướng Dương Văn Minh, năm mươi chín tuổi đời, bước lên
bục diễn đàn. Thân phận cuối cùng của Nam Việt Nam được phó thác cho vị tướng
này. Mười hai năm trước đây, cũng chính ông tướng này đã tiếp tay để cho Hoa Kỳ
dấn thân vào Việt Nam bằng cách lật đổ ông Ngô Đình Diệm, một vị tổng thống
chuyên quyền. Giờ đây sự can dự đó đang đi lần đến hồi kết cuộc rả rời. Tướng
Minh tiếp cận với giai đoạn lịch sử một lần cuối, để chứng kiến cuộc trao quyền
lại cho phía cộng sản. Quốc huy mới của đất nước - hình quẻ kinh dịch với hai
con bồ câu - được gắn lên bục diễn đàn thì một tiếng sấm nổ to, rền vang trên
thành phố và vang dội trong phòng khánh tiết.

Sài Gòn - Công trường Lam Sơn - 18:00 giờ
Tội băng ngang đại lộ Nguyễn Huệ, cố giữ cho máy ảnh khỏi bị ướt vì cơn mưa tầm
tã. Một trận kẹt xe kinh khủng, tôi phải bỏ xe để đi bộ đến văn phòng. Xích lô,
Honda, Taxi và xe nhà bị kẹt cứng trên đường, bóp còi inh ỏi.

Chờ cho đám kẹt xe giãn ra, tôi nhìn về phía tượng hai người lính thủy quân lục
chiến Việt Nam dựng ở công trường Lam Sơn, trước tòa nhà quốc hội.. Xuyên qua
tượng đài, tôi thấy ba chấm đen ở chân trời tiến nhanh về phía tôi. Ba chiến đấu
cơ A-37, mang cờ hiệu Việt Nam, nhào lộn trên đầu tôi. Tôi tạm thời cho rằng đó
là một lối biểu dương lực lượng, nhưng cấp thời sau đó, một chiếc tách rời đội
hình, bay về hướng dinh Độc Lập rồi phóng hỏa tiễn xuống. Một cụm lửa nổi lên
bên trong sân dinh, tiếng nổ hòa lẫn với tiếng sấm sét rồi hai chiếc còn lại
cũng bay theo chiếc trước và nhả đạn xuống mục tiêu.

Tôi chui xuống gầm xe, cùng với nhiều ký giả khác, từ dinh Độc Lập chạy ra, tìm
chỗ an toàn. Ba chiếc phi cơ lại rả đội hình và bay sà ngang chỗ chúng tôi nã
đại liên. Sau đó, cả ba kéo mũi lên, bay về hướng Bắc, về miệt phi trường. Tôi
mở máy vô tuyến, băng tần phòng vệ của Mỹ để nghe đài Mission Warden. Đài vẫn
còn hoạt động. Được biết là phi cơ đang ném bom Tân Sơn Nhứt.

Khi băng qua đường đến khách sạn Continental Palace, tôi trông thấy Mark Godfrey
dìu Hillary Brown đến chỗ an toàn. Hai người đều ướt như chuột lột. Súng nổ nghe
đều khắp. Như chừng lính tráng và cảnh sát trong thành phố mạnh ai nấy bắn. Ký
giả Ed Bradley trông như chết điếng vì hoảng sợ khi ông trông thấy người cảnh
sát quay lại, chĩa súng vào đầu chuyên viên thu hình rồi bóp cò. May quá, súng
đã hết đạn!

Những tiếng nói trong tai tôi la lối om sòm, tiếng Việt, tiếng Mỹ lẫn lộn. Một
tiếng nói người Mỹ lấn át tất cả:".... gọi trung ương, gọi trung ương... tôi
không biết chuyện gì xảy ra, nhưng có lẽ mọi người đều điên khùng hết rồi!"

Sài Gòn, trên sân thượng khách sạn Continental Palace - 23:00 giờ
Harry Griggs và Neil Davis của NBC và tôi, cả ba vừa tiêu thụ xong một bữa ăn
tuyệt vời chưa từng thấy, với rượu mạnh và xì gà Cuba, ở nhà hàng trên sân
thượng của khách sạn. Chúng tôi có thể nghỉ ngơi thoải mái vì chẳng còn nơi nào
để đi làm phóng sự, với lịnh giới nghiêm, đã được ban hành từ lúc xế chiều. Ai
bị bắt gặp ờ ngoài đường thì sẽ bị bắn tại chỗ. Chỉ có ba người chúng tôi, hai
Mỹ, một Úc, trong nhà hàng, nên được chiều chuộng tối đa.

Từ trong bóng tối, mươi cô gái muốn nhờ chúng tôi giúp cho một chuyến đi Mỹ. Giờ
phút đó, người Việt Nam nào cũng bám lấy chúng tôi. Người quản lý đưa ra một
chai rượu nữa, nhưng ở phía Bắc đã nghe thấy nhiều tiếng nổ. Giây phút sau, có
tiếng nhiều loạt súng từ phía Tân Sơn Nhứt.

Có tiếng nói trên tần số của Embassy Mission Warden: "Đây trung ương... có tin
DAO bị pháo kích! Trung ương... trung ương, Mission, chúng tôi bị thiệt hại và
có người bị thương ở phòng thể dục! Trung ương... trung ương, có trực thăng võ
trang rơi gần cổng! Trung ương.... trung ương... đây là Security One. Có lính
thủy quân lục chiến bị bắn gần cổng trước! Chúng tôi cần cứu cấp NGAY!"

Từ vị trí thuận lợi, chúng tôi thấy hết vụ nổ này đến vụ nổ khác làm sáng cả mỗi
góc trời. Có vẻ như toàn bộ máy bay ở bến đậu bị pháo. Tôi trở vào phòng ngủ và
tìm cách liên lạc điện thoại với văn phòng. Không ai trả lời. Tôi trở lên sân
thượng, Harry Griggs đang liên lạc vô tuyến với NBC. Vẫn chưa có tìn gì của sứ
quán.

Vô tuyến của Mission lại lên tiếng: "Trung ương, đây Security One. Ở đây có ba
thủy quân lục chiến hy sinh. Xin cho ý kiến. Xin tiếp tay với chúng tôi."

Đến đây, có một tiếng nói khác trên máy vô tuyến.... một tiếng nói chúng tôi chưa
nghe thấy bao giờ. Một giọng nói trầm lắng và bình tĩnh, như một mệnh lệnh:
"Mission Control, Mission Control, đây Silver Hill. Tôi lập lại, đây là Silver
Hill, xin cho biết bạn nghe tôi rõ không? Chúng tôi nắm quyền chỉ huy tất cả mọi
công tác. Tất cả các liên lạc, giờ đây chuyển qua Silver Hill."

Không một ai trong chúng tôi nghe đến Silver Hill bao giờ. Bỗng dưng tôi nhớ
ra... là trong nhiều lần đến căn cứ không quân Andrews, tôi có thấy một bảng chỉ
đường hướng về Silver Hill. Thì ra, từ giờ phút này, Washington nắm quyền điều
hành tất cả mọi chuyện ở Việt Nam.

Chương 7 : Nhiệt độ lên 105 và cứ tăng lần

Ngày 29 tháng Tư - Sài Gòn - 10:00 giờ
Đường phố Sài Gòn vẫn vắng lạnh, im ắng. Giới nghiêm từ tối hôm qua vẫn còn hiệu
lực. Giống như cảnh một thành phố ma.

Trên sân thượng của khách sạn New Palace, chúng tôi đứng nhìn về phía Tân Sơn
Nhứt. Nhóm phóng viên của NBC đã chuẩn bị xong máy thu hình, lấy khăn tay che
đầu chống lại cơn nắng gay gắt của mặt trời buổi sáng. Người bồi bàn của khách
sạn đưa lên những mâm thức ăn cầm tay và những ly bia.

Chúng tôi thấy một chiếc C-119 lượn quanh sân bay, vài ba phút nhả đạn xuống
đất. Bỗng nhiên, chiếc phi cơ vỡ tan, biến thành một đám lửa sáng ngời rồi nhiều
mảnh vụn từ từ rơi xuống đất, xoay tròn và bốc khói. Neil Davis la lên: "Trời!
hỏa tiễn SAM!"

Tôi cảm thấy có ai vỗ vai. Quay lại, thì ra con người mà tôi thấy vắng mất mấy
hôm nay. Nguyễn Văn Thơm đang đứng trước mặt tôi. Tôi đã hỏi những người tôi
quen trước nay, xem có biết Thơm ở đâu không. Thơm là chuyên viên phòng tối
trong hai năm, lúc tôi phụ trách hình ảnh cho UPI-Saigon trong những năm 1960.
Thơm trốn quân dịch nên chủ yếu làm trong phòng tối. Ông đã in ra không biết bao
nhiêu bức ảnh đã được giải World Press Photo Awards và Pulitzer Prizes, nhờ rửa
được những bức hình độc đáo của những người nhiếp ảnh dũng cảm. Từ mấy tháng qua
không ai biết được tông tích của Thơm thì nay ông lại hiện ra.

Nhìn tôi, Thơm nài nĩ: "Ông Dirck Halstead, tôi rất vui mừng gặp được ông! Ông
có thể nào đưa hộ gia đình tôi đi không?" Đó là câu hỏi mà nhiều người trong bọn
tôi đã nghe mấy ngày nay. Tôi chẳng biết sẽ làm sao, nhưng tôi bảo ông Thơm là
cứ đem vợ con đến đây đi. Càng sớm càng tốt. Ông Thơm quay lưng đi, tôi nhắn
theo là, nếu được, nhờ ông mua cho tôi mấy cục pin cho máy vô tuyến. Ông Thơm
lủi thủi chạy xuống cầu thang.

Ông Thơm vừa chạy khuất là Harry Griggs, tay cầm vô tuyến liên lạc, la to: "Có
lịnh rồi! Đã đến lúc rồi! Di tản! Mọi người đi nhanh!"

Tôi chạy nhanh xuống phòng, và kêu điện thoại báo cho cơ quan thông tấn. Rowan
cho biết là sứ quán vừa ra lịnh cho toàn thể nhân viên Mỹ tập trung ngay ở các
địa điểm di tản. Trạm của chúng tôi nằm ngay đàng sau cơ quan thông tấn, ở khách
sạn Continental. New York muốn biết chắc chắn là chúng tôi phải rời Sài Gòn
ngay. Đã có quyết định là Mark Godfrey, người muốn ở lại, sẽ là người duy nhứt
trong cơ quan nằm lại. Những người khác được lịnh là phải có mặt ở điểm hẹn
ngay. Tôi mở chiếc máy thu thanh ở đầu giường và lời báo cáo thời tiết vẫn lập
đi, lập lại: "Nhiệt độ lên 105 độ và cứ tăng lần!"

Tôi chạy trở lên sân thượng. Toán phóng viên NBC đã đi mất. Tôi nhìn xuống
đường, thấy những người Mỹ từ bên trong khách sạn bỗng nhiên đổ ra đường, đi về
hướng đại lộ Nguyễn Huệ. Tôi bắt đầu gom góp máy chụp hình và nghĩ đến Thơm.
Quái quỷ cái anh chàng này đi đâu? Tôi chờ 10 phút.. Đường phố vẫn hoang vắng.
Một chiếc Jeep chở đầy thủy quân lục chiến Mỹ trong quân phục chiến đấu chạy về
hướng đại lộ.

Tôi đợi Thơm thêm 10 phút nữa. Tôi nghe tiếng trực thăng bay trên trời ở đằng
xa. Thật chán cái ông này! Tôi nhìn xuống đường lần nữa. Chẳng thấy Thơm đâu
hết. Tôi lấy túi đựng máy ảnh ra đi thì thấy một gói nhỏ bên cạnh. Mở ra. Trời,
những cục pin mà tôi nhờ Thơm mua. Ông ta ở đâu bây giờ? Tôi bắt đầu bấn loạn...
chờ vài phút nữa... Một cái bóng qua ngang tôi, ngó lên thì thấy một chiếc trực
thăng CH-54 Sea Stallion của Hải quân bay ngang. Tôi phải đi thôi!

Sài Gòn, đường Gia Long - 11:00 giờ
Một nhóm người Mỹ di chuyển thận trọng qua các đường phố hoang vắng dọc theo
khách sạn Continental Palace. Họ mang theo nào là ba lô, máy chữ, máy ảnh và
thiết bị thu thanh. Người Việt Nam nhìn theo chúng tôi và bắt đầu đóng cửa nhà
và cửa sổ. Những cái nhìn đó cho thấy họ đã đoán được điều gì rồi. Họ thấy rằng
chúng tôi đang cuốn gói.

Một sự im lặng kỳ lạ tiếp tục kéo dài trong khi chúng tôi tụ tập lại trước tòa
nhà số 35 đường Gia Long, trên tường còn những chữ mờ mờ "University of
Maryland, Saigon Education Center". Những toán người Mỹ và Tây phương khác cũng
đến nhập bọn với chúng tôi. Chẳng mấy lúc mà nhóm chúng tôi có đến mấy trăm
người đứng ở góc đường để chờ đợi.

Hai chiếc buýt sơn đen xuất hiện và lướt đến ngừng ngay trước mặt chúng tôi. Một
người lính thủy quân lục chiến Mỹ, mình mặc áo giáp, đầu đội nón sắt bước xuống
xe và hô to: "Đi thôi, quý vị!" Từng người một, chúng tôi leo lên xe. Một vài
người Mỹ giúp một người bạn Việt Nam leo lên xe buýt. Bên trong chiếc xe, bầu
không khí nóng oi ả vì không có máy điều hòa. Chiếc xe lăn bánh chẳng bao xa thì
chúng tôi tới đàng sau sứ quán Hoa Kỳ. Một đám đông gồm hàng trăm người Việt Nam
cố gắng trèo lên tường rào, trong khi thủy quân lục chiến phía bên trong xô đẩy
họ trở ra. Thấy xe chúng tôi đến, đám đông dàn hàng ngang trước đầu xe. Thủy
quân lục chiến trên xe la to: "Cứ chạy tới!"

Người tài xế hoang mang sợ hãi. Ông ta ngồi yên, bất động. Những quả đấm bắt đầu
đập mạnh lên tấm lưới sắt che chắn cửa sổ xe. Máu từ những nắm tay đập vào lưới
sắt bắt đầu ứa ra. Anh thủy quân lục chiến móc khẩu súng lục 45 ra, chỉa vào ông
tài xế và quát: "Cho xe chạy nhanh lên!". Chiếc xe từ từ chuyển bánh, bỗng
nhiên, chúng tôi cảm thấy bánh xe lăn trên thân người. Đám đông la ó. Anh lính
kề họng súng vào gáy ông tài xế và lập lại: "Cứ chạy đi!" Chúng tôi cảm thấy đau
lòng và lợm giọng khi chiếc xe cứ rẽ đám đông để tiến tới.

Căn cứ Tân Sơn Nhứt - 12:30 giờ
Cổng căn cứ không một bóng người khi chiếc buýt chạy ngang tượng đài cao nghệu
trước cổng, với hàng chữ ghi công: "Người bạn đồng minh cao quý... những sự hy
sinh của họ không khi nào bị lãng quên."

Chiếc xe dẫn đầu cán đại lên kẽm gai của rào cản cuối cùng rồi băng qua cổng của
DAO (Defense Attaché Office: phòng tham vụ quân sự, cơ quan cố vấn và viện trợ
quân sự Mỹ thu hẹp). Kề bên cổng là một chiếc xe của sứ quán bị lật ngửa. Những
cột khói đen to tướng bốc lên từ khu Air America, nằm bên kia đường.. Một chiếc
trực thăng hư hỏng, nằm ở đường mương, thiếu mất một gọng đáp, cánh quạt vẫn còn
quay. Chiếc buýt dừng lại bên trong cổng, trước bức tường dày cộm của DAO.

Hillary Brown và tôi vừa bước xuống xe buýt thì một tiếng nổ kinh hồn làm chúng
tôi ngã xoài xuống đất. Một quả đạn 130 ly vừa đánh trúng trạm Air America, cách
chúng tôi chừng năm mươi thước. Người lính với chiếc áo giáp cuối người bên trên
Hillary để bảo đảm an toàn cho bà, sau đó đứng lên hô to: "Hãy đi thôi quý vị...
đừng hoảng sợ!"

Vừa khom người, vừa chạy, chúng tôi phóng nhanh vào bên trong tòa nhà DAO. Hỏa
tiễn rơi tới tấp sau lưng chúng tôi. Một người phụ nữ Việt Nam ngã nhào, Mal
Browne của AP đỡ bà lên rồi đưa bà vào bên trong.

Bên trong một cái hành lang dài, những tiếng nổ bên ngoài chỉ nghe văng vẳng
thôi. Hàng trăm người Việt Nam và Mỹ ngồi dựa lưng vào tường, túi hành trang để
trước mặt. Mấy người lính Thủy quân lục chiến, đồ tác chiến nghiêm chỉnh, phát
cho mỗi người một tấm thẻ, dặn rằng: "Thẻ này dành cho quý vị, chớ không phải
cho hành lý."

Đang ngồi ở hành lang, một vài ký giả đã tháo máy chữ ra và bắt đầu viết bài.
Một nữ tu quỳ gối lên chiếc va li và cầu nguyện. Tòa nhà thỉnh thoảng rung rinh
vì đạn pháo nổ ngay bên ngoài. Một sĩ quan thủy quân lục chiến đi qua hành lang
và tìm cách trấn an chúng tôi. "Đừng có lo sợ, trực thăng đến bây giờ!"

Khu Tân Sơn Nhứt - 13:30
Đại tá thủy quân lục chiến, Alfred Grey, đầu đội nón sắt, thân mặc áo giáp bọc
ngoài áo thun, đang nằm dưới rãnh nước phía ngoài tòa nhà DAO, gần rạp chiếu
bóng. Ông đại tá đang liên lạc qua cái máy vô tuyến do một anh Thủy quân lục
chiến trẻ có vẻ sợ hải. Hai người cứ hụp đầu xuống mương đầy nước vì đạn pháo
rơi quanh họ.

Ông đại tá đang liên lạc với những chiếc trực thăng, cất cánh từ hàng không mẫu
hạm đậu ngoài khơi biển Nam Hải bay vào. Bỗng dưng, tiếng nói của ông bị tiếng
động của phi cơ phản lực lấn át. Mấy chiếc F4 của Hải Quân Hoa Kỳ nhào lộn trên
không, phóng tên lửa và ném bom. Những đám cháy đỏ rực bên ngoài tòa nhà. Ông
đại tá nhìn lên và thấy tôi đang bấm máy chụp hình. Ông nói to: "Tuồng hát sắp
mở màn." Miệng nở một nụ cười, ông chỉ tay về hướng nhà hát bị bỏ hoang. Lính
thủy quân lục chiến chạy nhanh vào tòa nhà, trong khi khói vàng tỏa ra trên bầu
trời màu xám.

Bay sà mặt đất, chiếc trực thăng Sea Stallion đầu đàn xuất hiện trước tiên, theo
sau là một chiếc khác. Hai chiếc đáp xuống bên trong tòa nhà, cánh quạt vẫn tiếp
tục quay nhanh. Bệ chất hàng phía sau hạ xuống và một trung đội thủy quân lục
chiến, với súng M-16, M-50 và súng cối phóng nhanh ra.. Trong nháy mắt, họ họp
thành đội hình bao quanh tòa nhà và núp kín.

Đồng thời, một thủy quân lục chiến khác nắm tay nữ tu, hướng dẫn một toán lối
trăm người Việt và Mỹ chạy nhanh từ tòa nhà DAO. Họ vừa khom lưng vừa chạy xuyên
qua hành lang nối liền DAO với rạp chiếu phim... xuyên qua phòng đợi của rạp
hát.... qua ngang người lính thủy quân lục chiến trẻ tuổi, đổ vào sân trống rồi
leo lên trực thăng.

Chỉ mất 90 giây, sau khi chiếc trực thăng Sea Stallion đầu đàn của đại tá
Herbert Fix hạ xuống, nó vọt trở lên, với tốc độ tối đa, mang theo chuyến hàng
quý giá, cũng như chiếc thứ nhì theo sau và tiến trình lại bắt đầu trở lại.

Chương 9 : Chúng tôi vừa bỏ đi

Ngày 30 tháng Tư - Ngoài biển Nam Hải, trên USS Blue Ridge - 11:30
Hầu hết tập thể báo chí di tản khỏi Sài Gòn ngày 29 tháng Tư đã tìm đường tới
được soái hạm của Tập đoàn Tác chiến (Task Force), chạy lang thang cách bờ biển
phía Tây của Việt Nam khoảng 50 hải lý.

Họ được đưa xuống trên nhiều tàu khác nhau của hạm đội và người nào cũng mang
theo phim hay băng ghi hình mà thế giới cần phãi xem qua. Đối với tôi thì không
còn kịp nữa rồi. Hôm đó là thứ Năm, nghĩa là tối thứ Tư ở New York. TIME
Magazine đóng cửa ngày thứ Sáu, thế nên dù sao tôi phải rời hạm đội đem phim đến
Subic Bay. Subic là điểm gần nhứt, từ đó ban văn thơ của TIME mới đưa lên chuyến
bay của Pan Am để về tới New York cho kịp giờ báo lên khuôn.

Chúng tôi tập hợp lại thành một phòng báo chí lâm thời trên tàu Blue Ridge. Lần
hồi, khi một ký giả hay một toán truyền hình nào đặt chưn lên tàu là chúng tôi
ráp nối tin tức lại, cho thấy chuyện gì đã xảy ra trong hai mươi bốn giờ qua.

Sài Gòn giờ đây là một câu chuyện đã qua rồi! Quân Bắc Việt đã treo cờ của họ
lên dinh tổng thống, thế là bỗng dưng có một thành phố mới tên Hồ Chí Minh.

Trong khi chúng tôi đối chiếu tin tức, tôi thấy một con người đơn độc đứng gần
cửa ra vào mà chẳng một ai để ý.

Tôi nhận diện được Graham Martin, thế là mọi người đổ xô lại ông, đưa micro ra
phỏng vấn. Ông đại sứ có vẻ bịnh hoạn, mà ông bịnh thật tình. Ông bị cảm cúm và
mệt mỏi. Cuối cùng, ông bị bắt buộc rời khỏi nhiệm sở để lên chiếc trực thăng
đậu trên nóc sứ quán, trong khi người lính thủy quân lục chiến phụ trách an ninh
tung lựu đạn xuống cầu thang để ngăn cản đám đông người Việt Nam định nhảy lên
chiếc trực thăng cuối cùng. Mọi người đều đặt câu hỏi cho ông đại sứ, nhưng ông
chỉ quay đi và lẳng lặng bước xuống hành lang đi vào phía trong chiếc tàu.

Một phát ngôn viên của Hải Quân tìm cách ổn định lại phòng báo chí. Tất cả nhóm
báo chí đều viết bài đút kết cho câu chuyện của họ, nhưng còn có một vấn đề bất
ngờ. Sau khi ông đại sứ Martin đã di tản, mọi chuyến bay đều đình chỉ. Mấy tiếng
đồng hồ sau, có người nhớ ra rằng toàn bộ 10 người lính thủy quân lục chiến phụ
trách an ninh còn bị bỏ quên trên nóc sứ quán. Theo lịnh trực tiếp của Tòa Bạch
Ốc, một phi hành đoàn Sea Stallion, dẫu đã mệt nhoài cũng phải cất cánh trở lại
đem họ ra, ngay lúc xe tăng Bắc Việt chạy qua ngang tòa đại sứ.

Giờ đây, mối lo cấp thiết nhứt của báo chí là làm sao đưa sản phẩm của chúng tôi
- phim, băng hình và ghi chú - ra khỏi chiếc tàu này. Chúng tôi lập ra một ủy
ban, kiến nghị với Đô Đốc chỉ huy cuộc hành quân, và ông đồng ý cho một người
đáp trực thăng đi sang hàng không mẫu hạm Coral Sea. Tàu này có phi cơ loại
chong chóng, có thể đưa tài liệu đi Phi Luật Tân. Chúng tôi phải bắt thăm và tôi
là người may mắn. Tôi gom góp tất cả phim và băng hình của các cơ quan thông
tin, tạp chí và hãng thông tấn lại và vài ba phút sau tôi rời khỏi tàu Blue
Ridge.

16:00 giờ - Bay trên biển Nam Hải
Tôi bay trên một chiếc phi cơ loại COD (Carrier On-deck Aircraft, phi cơ chở
theo hàng không mẫu hạm), một phi cơ chong chóng được phóng để cất cánh từ tàu
Coral Sea. Chúng tôi bay về hướng Đông, với "kiện hàng" quý giá. Trong số những
người đi trên máy bay, có những nhân vật đặc trách công tác di tản, tất cả trên
đường đi căn cứ hải quân Subic Bay để báo cáo tình hình.

Tôi quay sang một sĩ quan thủy quân lục chiến, quần áo trận còn đẫm mồ hôi, hỏi
ý kiến của ông về diễn tiến vừa qua. Ngập ngừng đôi lúc, ông nói: "Chúng tôi là
lính cứu hỏa.. Giờ thì lửa đã tàn. Đó là một dịp cho nước Mỹ tụ tập lại. Đây là
lần đầu tiên chúng ta ra đi và bỏ rơi một người bạn đồng minh... Tôi vẫn tự hỏi
lòng mình liệu còn có gì để làm hơn nữa hay không? Giá như tôi có thêm trực
thăng, thêm máy bay hơn nữa? Dẫu cho điều gì đã làm được, tôi vẫn cảm thấy mình
đã bỏ rơi họ... Tôi cứ bỏ đi thế thôi."

Tôi bước ra phòng lái, và ngồi lên chiếc ghế phụ đàng sau hai phi công chánh và
phụ. Tôi hỏi họ có nghe ngóng gì thêm được tin tức của Sài Gòn không? Họ chỉ cho
tôi thiết bị để nghe trên chiếc ghế tôi ngồi và tôi đặt vào lỗ tai để nghe. Họ
bắt cho tôi băng tần FM của hệ thống quân đội Mỹ Sài Gòn. Khi phi cơ bay vào
vùng trời đen tối, tôi nghe được những âm thanh giống như nhạc Mantovani trên
đài phát thanh. Sau đó, một giọng người đưọc ghi sẵn nói rằng:" Đây là đài quân
đội (Mỹ), Sài Gòn." Ngừng một lúc, rồi sau đó tôi nghe Bing Crosby bắt đầu hát
"White Christmas".

Lời bạt:
Trên đây là tình hình đã xảy ra hơn ba mươi năm về trước, nhưng những biến cố
của mấy ngày cuối cùng ở Sài Gòn vẫn còn ám ảnh tôi. Tôi không biết có người
nào, đã trải qua những cảnh tượng như thế mà không bị mủi lòng hay không.

Sau khi rời hàng không mẫu hạm Coral Sea, nhảy cóc nhảy nhái từ chiến hạm này
sang tàu nọ của hạm đội, tôi đã xin được một chỗ ngồi trên máy bay để tìm đường
đến Subic Bay, mang phim của tôi và của các đồng nghiệp đến nơi. Những tài liệu
đó về đến New York thì báo đã lên khuôn, nhưng Sài Gòn là chuyện xưa cũ đã qua
rồi. Tạp chí TIME đã in xong, với một cái ảnh "nghệ thuật" của Hồ Chí Minh nơi
trang bìa, và hầu hết những hình ảnh và bài viết trang trong thì lấy của các
hãng thông tấn khác. Phần lớn những hình ảnh của bút ký này chưa được đăng lúc
bấy giờ, dẫu cho hình ảnh này cũng đã làm cho tôi được giải "Robert Capa Gold
Medal" hồi đó.

Nhiều người trong chúng tôi đã dừng lại Hong Kong đôi ba ngày, sau khi Sài Gòn
sụp đổ. Ở đó, chúng tôi gặp được Hunter Thompson, người đã rời Sài Gòn khá lâu
trước khi có đợt di tản. Chán nản vì không in được đúng lúc những câu chuyện của
mình nên chúng tôi trúc bầu tâm sự cho Hunter, với hy vọng là, ít ra anh ta cũng
đưa những tình tiết đó vào một bài viết của anh. Thế nhưng, anh chẳng viết được
một chữ nào hết.

Tạp chí TIME đưa cô vợ Ginny của tôi sang Hawaï để gặp tôi. Tuần lễ sau đó,
chúng tôi sinh sống trong một "túp lều tranh" lý tưởng và bình thản ở Kona. Thế
nhưng, thay vì thư giản, thoải mái, tôi lại xuống tinh thần ghê gớm. Tôi dạo
chơi trên bãi biển, không nói lên được lời nào về những gì tôi đã chứng kiến.
Một năm sau, hai đứa tôi cưới nhau.

Mùa thu năm 1976, gom góp lại những hình ảnh và ghi chú của tôi về Việt Nam, tôi
dựng lại được một chuyện phim. NBC chịu mua chuyện đó để chiếu trong chương
trình "Movie of the Week". Thế nhưng, khi bắt đầu làm phim thì Brandon Tartikoff
lên chức trưởng đài nên dự án bị bỏ đi. Bút ký này được thu nhặt từ những ghi
chú ban đầu của tôi.

Năm 1995, tôi thăm lại Việt Nam để sáng tác ra tập phim tài liệu "Goodnight
Saigon". Lúc bấy giờ, ông Nguyễn Văn Thơm làm chủ tiệm rửa hình nhanh, chỉ cách
nơi mà tôi gặp ông lần cuối hồi 1975 một khu phố. Graham Martin, người đã rời sứ
quán sáng sớm ngày 30 tháng Tư, mang theo con chó và quốc kỳ Hiệp Chúng Quốc,
trở về Mỹ, lang thang trong những văn phòng của bộ Ngoại giao mấy năm cho đến
ngày về hưu. Đại tá Alfred Grey, người đã điều hành cuộc di tản thủy quân lục
chiến, tiếp tục con đường quân nghiệp và lên chức tư lịnh thủy quân lục chiến
Hoa Kỳ. Hillary Brown, người nữ ký giả, vẫn làm phóng sự về những điểm nóng trên
thế giới cho hãng tin ABC News. Roy Rowan, người đã đóng cửa văn phòng TIME ở
Sài Gòn, vừa đi Việt Nam về, với một bài viết quan trọng cho Fortune Magazine.
Neil Davis, phóng viên NBC ở trên sân thượng cùng với tôi ngày cuối cùng, đã tử
nạn ngày 9 tháng Chín năm 1985 ở Bangkok trong khi làm phóng sự về một cuộc đảo
chánh. Michel Laurent là chuyên viên hình ảnh cho báo chí nằm xuống cuối cùng ở
Việt Nam.

Quân Bắc Việt chiếm Sài Gòn, san bằng mồ mã lính chiến Nam Việt Nam và đổi tên
thành phố lại là Hồ Chí Minh. Ngày nay, vị tướng già nua, được Bắc Việt chính
thức bổ nhiệm để cai quản thành phố (Tướng Trần Văn Trà), với đôi chưn không, đi
lang thang phố phường, phản đối lại thành quả của cuộc cách mạng mà ông đã cam
go giành được, đã bị đánh đổi để lấy một sự kết hợp kỳ quái của tham nhũng và
thương mại.

Những ngôi nhà chọc trời hầu như mỗi tháng mỗi mọc lên, du khách Hoa Kỳ đi chật
đường phố, chui vào những nhà hàng theo kiểu thời thượng của California.

Chiếc chiến đấu cơ phản lực F-15, ngày đó của tháng Tư năm 1975, đã hướng dẫn
đánh bom xuống dinh Độc Lập, giờ được đem triễn lãm tại một công viên ỡ trung
tâm thành phố. Tên phi công, đã từng đào ngũ với phi cơ bay ra vùng Việt Cộng,
nay là trưởng phi cơ của Hàng không Việt Nam và con gái của ông là tiếp viên
trên các chuyến bay của hãng này. Ước mơ còn lại của ông ta là lái chuyến bay
đầu tiên của công ty đi Hoa Kỳ.

Dirck Halstead Halstead
Washington, ngày 7 tháng Năm, 2000

Cố Nhân
(Viết theo ý chính của bài "White Christmas, The Fall of Saigon" của Dirck
Halstead, The Digital Journalist, May 2000)
[http://digitaljournalist.org/issue0005/wcintro.htm]